Tháng chạp sương phủ, chùa chìm trong màn trời màu nước gạo vo. Rêu mái ngói ẩm và đàn chim bay qua thường nhả vài hạt nhỏ xíu rớt xuống bên vách, vài tháng sau đã thấy có cây mọc lên leo bám. Thầy trò chúng tôi tách cây đem đi dặm trong vườn. Có khi đó là cây bồ đề hoặc cây sanh để uốn thế. Có khi là vài loài hoa dại nở đủ màu nhưng chỉ một lứa thôi đã tàn và héo. Chúng tôi vẫn trồng vì như thầy dặn, ta phải tạ ơn chim đã mang chủng tử về đây.
Thầy nói đó là mùa gieo hạt tự nhiên. Mùa xuân đến chùa sớm hơn.
Và cũng cỡ đó, thầy giao cho tôi cùng sư huynh Từ Chân việc trảy lá mai trong vườn. Từ Chân đã đi học cấp ba, người cao long nhong, việc gì cũng tháo vát. Tôi lại hay nghịch. Thầy thương cả hai như nhau, làm gì cũng bảo tôi giúp sư huynh, còn Từ Chân thì phải hướng dẫn tôi mọi việc.
Từ Chân cao nhưng vẫn phải bắc thêm ghế mới vói tay tới mấy đọt mai. Vừa hái huynh vừa nói không thích việc này chút nào, cứ để nó nở tự nhiên thì hay hơn. Mà mai nở cảnh chùa vui thêm, lòng người chỉ mệt đi.
Tôi đem chuyện thưa với sư thầy. Thầy nói tánh Từ Chân vậy, chắc khó đi lên núi.
Từ Chân học giỏi. Năm nào nhận bằng khen về huynh cũng hỏi thầy ơi năm sau con có đi học nữa không. Thầy cười, học chứ sao nghỉ. Thi tốt nghiệp cấp ba đạt loại ưu, Từ Chân lại hỏi thầy có cho con học tiếp không. Thầy gật đầu, đi làm sinh viên là học kiến thức cao cấp hơn, dễ giúp đời hơn. Từ Chân hơi buồn, bạch thầy sợ theo đuổi học đời mà quên chuyện đạo. Tùy duyên thôi con, thầy nói, như cây cối có loài cho hoa có loài không, vậy đó mới là tự nhiên.
Hoàng mai vườn chùa năm nào cũng nở trúng. Hăm ba tháng chạp đã bung vỏ lụa gần hết. Ba ngày Tết vàng rực cả vườn xen lẫn lá lộc non mướt. Người đến vãn cảnh chùa khen chỗ này cây cối thuận khí trời, người tu hành chắc cũng thuận đạo mà hanh thông.
Công lao này hẳn là của Từ Chân hết, vì chính huynh ấy hái lá, tôi chỉ loanh quanh dưới gốc gom nhặt. Có năm hào hứng tôi đòi Từ Chân đổi chỗ, tôi sẽ leo lên hái lá còn huynh cúi gom nhặt. Từ Chân không chịu, bảo tại lưng dài cúi xuống mỏi lắm.
Thầy nói huynh đệ tụi con mỗi đứa một khác, đứa chuyên nhìn lao lung, đứa chuyên cúi chằm xuống. Tôi lên tám vẫn chưa hiểu được hết ý thầy, chính xác là không hiểu chi trơn trọi. Từ Chân thì tái mặt, lặng lẽ về phòng ngồi khựng trước bàn học.
Tháng chạp năm đó tôi lượm được bốn lá thư chép tay trong tập giáo trình của Từ Chân. Tôi vừa đọc vừa cười, có đoạn trích thơ thì đọc đến thuộc. Có nhiều đoạn viết khó hiểu, tôi đem hỏi thầy. Thầy không xem thư, chỉ bảo tôi đem về cất lại chỗ cũ cho sư huynh. Có giải thích con cũng không hiểu đâu. Mà mấy chuyện đó, không nên hiểu làm chi.
Từ Chân hái lá bất cẩn, để gãy nhiều ngọn nhỏ. Thầy đi qua, thấy trong giỏ mây của tôi mấy cái nhánh con, quở hôm nay ít sương hay sao cây giòn quá. Rồi thầy dặn Từ Chân cẩn thận kẻo ngã, đừng chủ quan, vọng tưởng xô được người ta xuống từ núi cao đó nghe.
Ra giêng ngày rằm Từ Chân vẫn chưa đi học. Tôi cạnh khóe làm sinh viên ăn Tết sướng quá, chẳng như học sinh mới nghỉ có mấy ngày đã phải đến trường. Từ Chân nói huynh phải nghỉ học thôi, giờ học không vô chữ nghĩa được nữa, tụng kinh dễ hơn vì khỏi phải hiểu. Chắc huynh chỉ nói để tôi siêng năng tụng kinh hơn, vì tôi hay làm biếng khi thầy bắt ngồi đọc những chữ Phạn rối mù không rõ nghĩa.
Một chiều, chị Luyến bạn học cùng lớp với Từ Chân đến chùa đợi rất lâu trước cổng. Chờ thầy trò tôi tụng kinh xong, chị ngoắc tay tôi kéo ra chỗ cây bồ đề hỏi huynh Từ Chân đâu. Tôi chạy đi tìm thấy Từ Chân núp sau nhà thất, huynh bảo tôi ra nói với chị Luyến là Từ Chân đã mang sách lên núi vừa đọc vừa coi mấy cái cây con.
Chị Luyến về khuất, Từ Chân bước ra quỳ gối xin thầy tha tội, con đã đụng vào thân thể người ta rồi thầy ơi. Dân trong xóm đi qua suối thấy chuyện, nói con về xin thầy cho xả giới, chứ ở đây chỉ làm tội thêm chùa chiền.
Hôm đó Từ Chân vội vàng đi trồng cây, mang theo tay nải. Sương dày đặc nên người chỉ mới lọt qua chỗ cổng là đã không còn nhìn rõ hình. Thầy thấy, nói kệ, cứ để chú ấy đi.
Chị Luyến còn lên chùa hai ba lần gì đấy. Chị bảo Từ Chân không đi học thì biết lấy ai kèm cho chị. Giảng đường đại học kiến thức cao siêu mà không có lớp học thêm, chắc chị phải bỏ thôi. Có lần chị vào tận phòng ngủ của chúng tôi lục lọi thứ gì đó. Mãi không thấy, chị ngồi khóc rồi giật cái khăn màu nâu của Từ Chân ngúng ngẩy mang về. Tóc chị dài, không dài bằng cái khăn nâu của chúng tôi. Tôi nghĩ lung tung chuyện mái tóc đó chắc dễ búi dễ buộc, mà buộc được rồi khó cởi khó tháo.
Tôi thưa với thầy tôi không thích chị Luyến vì chuyện chị tự ý vào chùa. Thầy nói đừng ghét bỏ họ nữa, người ta khổ mới tìm tới đây.
* * *
Ngày nắng, Từ Chân lại tìm về chùa. Tôi đem xô đi hứng nước thấy dáng sư huynh khật khưỡng leo mấy bậc đá từ dưới xa nhưng không gọi. Tới khi tôi xách xô lên thì Từ Chân đã đến rất gần, tôi giả bộ làm lơ. Từ Chân hỏi tôi chắc ghét huynh ấy lắm phải không. Tôi ngoắc đầu về phía chùa, ý bảo vào đó mà hỏi sư thầy.
Khi đó tôi đã đọc xong mấy cuốn yếu lược Sadi nên tôi biết chỗ này thiêng liêng, không chấp nhận được việc người ta đối đãi bông lơn với ngôi chùa của tôi, thích là đi thích là về dễ quá sao. Và hơn nữa, tôi muốn mọi sự căm giận của mình phải được cộng thêm vào chỗ thầy, để thầy giáng xuống sư huynh. Như thế hả hê hơn.
Nhưng thầy không mắng Từ Chân, cũng không vồn vã hỏi han. Thầy chỉ mỉm cười như kiểu đệ tử mới đi loanh quanh đâu đó. Từ Chân quỳ sạp gối chỗ sân chùa cho tới khi nghe tiếng khánh đồng báo hiệu giờ ngọ, thầy kêu huynh vào gõ mõ, tôi đứng bên thỉnh chuông. Như chưa có chuyện gì xảy ra.
Từ chân tiếp tục đi học nhưng học yếu hơn. Hồi năm nhất được học bổng sinh viên giỏi. Tới năm hai chỉ có khá, năm ba trung bình và năm cuối phải thi lại rất nhiều môn. Tôi hỏi Từ Chân sao thấy huynh siêng học, ở chùa ngoài tụng kinh là lao vào bàn ngồi học mà lại lẹt đẹt quá vậy. Từ Chân nói tại huynh ấy đang tu. Tu gì. Tu cái sự hơn thua với đời. Tu diệt cái cuốn hút của vẻ trí thức.
Mấy loại tu đó tôi chưa được nghe. Tôi lại hỏi thầy sao Từ Chân học yếu mà thầy không mắng không đánh, còn con nhác học thầy lại khẻ thước vào mông đau quá. Thầy nói tại con còn biết đau là con đang lành, còn mấy người đau rồi thì đánh làm chi nữa. Tôi hiểu ra. Ờ, như cái hũ lên tương rồi thì không phải là đậu, đúng không thầy.
Mưa ràn rạt quét qua vườn chùa, xốc thẳng vào chỗ phòng chúng tôi. Từ Chân cầm xấp thư chạy lên núi. Khi về tôi hỏi mấy bức thư đâu. Từ Chân bảo gấp quá nên lấy để che những cây non mới trồng hồi chiều, mà mấy cái thư đó cũng không cần nữa. Tôi thắc mắc hết cần sao không dùng lửa đốt cho nhanh. Có phải cái gì dùng lửa đốt cũng cháy đâu.
Như cái đầu của người tu hành châm nhang có cháy được đâu.
Thầy làm lễ thọ giới tỳ kheo cho Từ Chân. Thầy cầm cây nhang ngúm lửa chấm vào đầu Từ Chân. Tôi đứng bên cầm khăn ướt, nghĩ chắc là bỏng lắm, sao huynh ấy không khóc mà cũng không chảy nước mắt. Thầy chấm nhang xong, Từ Chân cắn răng, tôi định phủ khăn ướt lên cho đỡ buốt nhưng huynh đưa tay khoát. Những nốt châm nhang trên đầu huynh tròn đẹp như mấy hạt chim nhả bên vách chùa. Thầy nói cấy vào đó rồi thì biết đường mà nuôi dưỡng.
Từ Chân nhập hạ ba tháng. Độ ấy cây bên vách đã cứng cáp. Tôi lãnh hết phần việc đi chăm dặm cây trong vườn. Thầy nói để Từ Chân yên tâm coi ngó mấy cái hạt trên đầu còn non dại.
Chị Luyến lên chùa, đứng trước mái thất bện tranh cửa gài, chị nói làm chi mà hành hạ mình cho cực. Tôi thì nghĩ chị cực hơn, đừng tưởng đứng ngoài mà được tự do thoải mái.
Chị rủ tôi đi xuống phố chơi. Chùa mấy bữa nay vắng lặng, đang mùa nhập hạ nên không ai dám lui tới đây quấy rối. Tôi thấy tịnh, không được giao việc gì, vui vẻ đi với chị vì nghĩ chắc chị cần nhờ vả việc gì đó, gửi một lá thư chẳng hạn.
Khi về, chị không gửi thư, chỉ nhờ tôi trả lại cái khăn nâu cho Từ Chân. Tôi hỏi nhắn gì nữa không. Chị lắc đầu. Chị sắp đi học xa, nếu tốt sẽ ở chỗ đó làm việc luôn. Chị nói nếu không có Từ Chân chị đã chết nước từ mấy đời. Nên chị đi, vì nỡ nào “giết” người đã từng cứu mình, đúng không.
* * *
Mùa xuân năm ngoái tôi quay lại chỗ vách núi. Vẫn ngôi chùa cổ kính đơn sơ nơi hoang tịch. Mai nở vàng chắc nhờ có duyên, hay tại người hái khéo. Huynh của tôi giờ đã là trụ trì, tôi không còn hỏi những câu trổng trơ như hồi đó nữa. Tôi xưng con và gọi huynh là thầy. Thầy Từ Chân bảo tôi đừng giữ lễ, vì mình từng là huynh đệ chỗ này. Đời nhiều ngã rẽ lắm đường đi, không trách được.
Chúng tôi dạo bộ quanh nương chùa, chim vẫn về đây ríu rít. Thầy Từ Chân đọc ngâm mấy câu thơ. Đây là quán tha hồ muôn khách đến/ Đây là bình thu hợp trí muôn phương/ Đây là vườn chim nhả hạt mười phương/ Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc. Ngâm xong thầy cười một tràng dài.
Tôi không đòi giải nghĩa mấy câu thơ, như hồi xưa thường bắt sư huynh phải giải thích tường tận. Vì đường còn xa.
H.C.D
