Phần Sự kiện & Đối thoại mở đầu bằng bài viết “Lá phiếu, niềm tin và sự khẳng định của dân chủ” của Văn Lịch. Bài viết tập trung vào ý nghĩa của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, xem lá phiếu là hình thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và là sự lựa chọn người đại diện. Tác giả nhắc lại tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong lịch sử, từ đó liên hệ với yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ đại biểu trong giai đoạn hiện nay.
Phần Sáng tác giới thiệu các truyện ngắn, tản văn và bút ký.
Truyện ngắn “Hội làng” của Vũ Thị Huyền Trang triển khai từ ký ức một đứa trẻ lạc mẹ trong ngày hội. Chi tiết búi tóc giữ vai trò trung tâm, liên kết các lớp thời gian và dẫn dắt quá trình nhận diện của nhân vật. Cách kể theo dòng hồi ức, tiết chế sự kiện, tập trung vào việc làm rõ nguyên nhân của những hiểu lầm kéo dài trong quan hệ mẹ con.
Truyện ngắn “Long lanh miền biên viễn” của Nguyễn Anh Tuấn dẫn dắt người đọc từ thù hận cá nhân đến sự thức tỉnh nhân văn giữa không gian biên thùy khắc nghiệt. Tác giả đan xen thực tại và yếu tố mộng mị, nhấn mạnh sức mạnh của lòng trắc ẩn: chỉ khi dũng cảm đối diện và biết bao dung, con người mới có thể chữa lành vết thương và tìm lại phần lương thiện trong chính mình.
Các truyện ngắn trong số báo đều được triển khai theo những tình huống riêng, mỗi tác giả lựa chọn một cách xử lý khác nhau.
“Sông không chảy” của Hồ Loan xây dựng một không gian gần như tĩnh tại. Nhịp kể chậm, các chi tiết lặp lại có chủ ý, tạo cảm giác dồn nén. Kết cấu thiên về nội tâm, làm rõ trạng thái bế tắc của nhân vật.
“Gió về thung Ngơng” của Trần Đức Sơn đặt câu chuyện trong bối cảnh miền núi, được tái hiện qua lối kể mộc mạc, chú trọng quan sát và chi tiết sinh hoạt. Không gian thung Ngơng hiện lên thông qua nhịp sống và tập quán ứng xử cộng đồng. Diễn biến truyện gắn chặt với những biến chuyển trong mối quan hệ giữa người với người.
“Chiều bàng bạc, ô cửa nhòe đi…” của Trang Thụy triển khai theo dòng tâm trạng. Các lớp thời gian đan xen, ngôn ngữ chú trọng sắc độ và hình ảnh, tạo cảm giác mờ nhòe cho văn bản, tương thích với chủ đề chia ly và sự phai nhạt dần của ký ức.
“Mở một cánh cửa” của Phát Dương xây dựng tình huống xoay quanh lựa chọn mang tính bước ngoặt. Cách kể gọn, tập trung vào hành động và quyết định của nhân vật, nhấn mạnh vào sự chuyển biến trong nhận thức.
“Mùa xuân của cha” của Văn Xương khai thác quan hệ cha con qua các chi tiết sinh hoạt gia đình. Lối kể giản dị, hạn chế biến cố, ưu tiên cảm nhận cá nhân của người con. Những chi tiết nhỏ được chọn lọc để phản ánh sự gắn bó và thay đổi trong nhãn quan về hình tượng người cha.
“Bên thềm xuân” của Hoàng Hiền ghi lại sinh hoạt đời thường, tâm tư bình dị của một bộ phận lao động xa quê trong những ngày cuối năm và đầu năm mới. Cách kể thiên về ghi nhận, tạo mạch truyện bình ổn, chú trọng cảm giác hơn là sự kiện.
Các tản văn “Bên bờ sông quê”, “Mùi xuân muộn”, “Rặng tre đời” có giọng điệu trầm lắng, hướng về ký ức và những giá trị truyền thống. Bút ký “Tản mạn vùng biên Quảng Trị” ghi lại những lát cắt đời sống vùng biên với những quan sát gần gũi và chân thực.
Phần Thơ có sự góp mặt của các tác giả: Nguyễn Đăng Quang, Hoàng Vũ Thuật, Lê Xuân Đố, Nguyễn Linh Khiếu, Cao Ngọc Thắng, Từ Sâm, Phan Văn Chương, Nguyễn Thị Anh Đào, Lữ Mai, Trần Thị Huê, Trương Lan Anh,... Các sáng tác cho thấy sự chuyển dịch linh hoạt giữa khuynh hướng tư duy hướng tâm và nhãn quan ngoại giới. Có một số bài khai thác những rung cảm nội tâm, có một số bài lại hướng vào cảm xúc trước biến chuyển của đời sống và tình yêu quê hương. Kỹ thuật xử lý chất liệu cùng sự điều phối giọng điệu của mỗi thi sĩ đã tạo nên những hướng tiếp cận riêng trong cùng một mảng thơ.
Phần Văn học nước ngoài giới thiệu truyện ngắn “Con chim sẻ” của Dazai Osamu. Tác phẩm triển khai qua dòng hồi ức của thương binh Keishiro sau sáu tháng dưỡng bệnh tại Ito. Xung đột bắt đầu từ hành động vô thức của Keishiro khi bắn súng hơi vào đầu gối cô gái Tsune. Sự việc này làm thay đổi hoàn toàn tư tưởng của anh, khiến anh nhận ra sự độc ác của bạo lực và bắt đầu căm ghét chiến tranh. Keishiro nhận ra mình đã mang dư âm giết chóc từ chiến trường về đời thường và vô thức vật hóa con người như một mục tiêu để bắn hạ.
Phần Lý luận - phê bình soi chiếu những vấn đề của đời sống văn học nghệ thuật.
Bài viết “Một hoạt cảnh văn chương Do Thái nhìn từ Joseph Roth” của Đức Anh trình bày chân dung Joseph Roth qua sự đan xen giữa thực tế và các giai thoại về thân thế, khẳng định ông là gương mặt tiêu biểu của văn chương Áo-Hung trong bối cảnh Đế chế sụp đổ. Tác giả làm rõ phong cách viết giàu chất thơ nhưng tỉnh táo, bao dung khi thể hiện các số phận Do Thái lưu vong qua Hotel Savoy và Job. Bài viết cũng chỉ ra mối liên hệ giữa trải nghiệm cá nhân, căn tính Do Thái và thế giới nghệ thuật của Roth, nhấn mạnh vị trí của ông như một vinh quang nghệ thuật nảy sinh từ những biến động và đổ vỡ lịch sử.
“Người nghệ sĩ không đứng ngoài cuộc” tập trung vào quan niệm nghệ thuật gắn với trách nhiệm xã hội, khẳng quyết vai trò dấn thân của người cầm bút trước hiện thực. “Ngô Thảo - người giữ hồn cho ‘những người muôn năm cũ’” đi sâu vào chân dung Ngô Thảo với tư cách một người làm công việc gìn giữ, hệ thống và truyền lại ký ức văn học. “Đêm ấy nắng to” soi chiếu con chữ của Hoàng Thụy Anh từ phương diện cấu trúc và cảm hứng, làm rõ cách tổ chức hình ảnh và giọng điệu trải nghiệm đời sống. “Những bông cúc khiêm nhường trên trang giấy” khai thác đặc điểm sáng tác theo hướng giản dị, lặng lẽ và cần mẫn của nhà thơ nữ Bùi Thị Diệu. “Đỗ Thành Đồng và những hành trình thơ trong đêm” phân tích thế giới thơ giàu tính nội tâm, gắn với hành trình khám phá cảm xúc và bản thể.
Phần Người & Đất quê hương mang đậm dấu ấn văn hóa địa phương. Các bài về lễ hội khai hạ làng Tượng Sơn, tục cúng đất ở Quảng Trị, về Tiên Lệ, về câu lạc bộ dân ca Sông Hiền hay Đội chiếu bóng anh hùng góp phần ghi lại những nét sinh hoạt văn hóa giàu bản sắc. Bài viết về nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ giúp bạn đọc hiểu hơn về cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa quê hương Quảng Trị với những ca khúc đi cùng năm tháng.
Phần Âm nhạc - Mỹ thuật - Nhiếp ảnh giới thiệu các sáng tác gắn với không khí bầu cử và đời sống đương đại. Nội dung các tác phẩm kết hợp hài hòa giữa trách nhiệm công dân trước sự kiện chính trị quan trọng và những lát cắt bình dị của quê hương. Sự giao thoa này tạo mạch cảm xúc vừa trang trọng vừa thiết thực, góp phần làm rõ tính thời sự cũng như sự gắn bó của nghệ thuật với bối cảnh xã hội cụ thể của ấn phẩm.
Tạp chí Nhật Lệ số 4+5 dày 200 trang phát hành tháng 4 năm 2026. Trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc!
