Truyện ngắn Ngày trở về của Nhà văn Văn Xương đưa người đọc về bên dòng Thạch Hãn. Chiếc bi đông với những lỗ đạn trở thành một vật chứng nhỏ bé nhưng ám ảnh, nối hiện tại với một quá khứ chưa bao giờ khép lại. Trở về, trong câu chuyện ấy, không chỉ là trở lại một địa danh, mà là trở lại với những món nợ ân tình, với đồng đội, với một lời hẹn ước với những người đã hóa thân vào đất mẹ.
Tản văn Tháng mười và Mẹ của tác giả Đinh Tiến Hải, Bóng
bà đã xa của tác giả Nguyễn Bình Nguyên, tùy bút Những người chị và vết
sẹo bên hông của tác giả Thanh Đan là những trang viết chất chứa niềm yêu
thương, nỗi nhớ và sự đồng cảm dành cho những người phụ nữ quan trọng trên đời,
là mẹ, là bà, là chị. Hình bóng của những người phụ nữ ấy luôn gắn với ký ức tuổi
thơ của mỗi người, đằng sau những vất vả, tảo tần, hy sinh, tài sản của họ là
những đứa con, đứa cháu, đứa em đã trưởng thành khôn lớn.
Truyện ngắn Cô gái sống ở Đức của tác giả Văn
Hương, tác phẩm Sính lễ của tác giả Hồ Loan có bối cảnh và
câu chuyện khác nhau nhưng đều phảng phất hình ảnh những người phụ nữ giàu đức
hy sinh. Một cô gái chấp nhận xuất khẩu lao động làm việc cực nhọc để trả nợ
cho gia đình, một người đàn bà lặng lẽ vì con. Trước những tình huống xảy ra
trong cuộc đời, họ đều nghĩ cho người thân trước khi nghĩ cho bản thân mình. Đó
cũng là những bản tính tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam từ xưa đến nay.
Đặc biệt, kỳ cuối của ghi chép Hơn ba mươi năm đi tìm
tên trong giấy khai sinh của tác giả Thanh Đức sẽ khiến độc giả vỡ òa cảm
xúc cùng nhân vật. Từ khoảng trống trong một tờ giấy khai sinh, người con đã đi
qua hàng nghìn cây số, đi qua những năm tháng chờ đợi, hoài nghi và cả những lần trở
về tay trắng. Khoảnh khắc ông Quốc quỳ xuống và tiếng gọi Cha ơi bật ra
sau bao năm dồn nén có lẽ là điểm lay động nhất của câu chuyện. Chiến
tranh có thể gây chia lìa và lấy đi những năm tháng không
thể trở lại, nhưng không thể xóa được sợi dây máu thịt và khát vọng tìm được
nguồn cội.
Mục thơ của số báo cũng mở rộng thêm những cung bậc ấy bằng
tiếng nói của nhiều tác giả, nhiều thế hệ. Phần thơ gồm các sáng tác của các tác
giả: Bùi Thị Diệu, Mai Nhung, Phạm Thùy Ngân, Trần Thị Huê, Minh Minh, Trần
Đình Ngôn, Nguyễn Quang Hưng, Đinh Phương, Hoàng Thúy, Lê Hưng Tiến.
Chuyên mục Văn nghệ học đường với bài viết Thơ Việt với
môn Ngữ văn trong Nhà trường trung học phổ thông của tác giả Nguyễn Văn
Dùng, đặt văn chương trong mối quan hệ với giáo dục, nơi thơ ca không chỉ được
đọc để hiểu một văn bản, mà còn góp phần hình thành năng lực cảm thụ và đời sống
tinh thần của người trẻ.
Đặc biệt, chuyên mục Lý luận phê bình của số này
dành một dung lượng đáng kể cho chính câu chuyện của Tạp chí Nhật Lệ: Chuyển
đổi số ở Tạp chí Nhật Lệ, nội dung là cốt lõi, công nghệ là phương tiện. Đây
không chỉ là câu chuyện về một website, một phần mềm hay một phương thức xuất bản
mới. Sâu xa hơn, đó là câu chuyện làm thế nào để những giá trị đã được tích lũy
qua nhiều năm không bị bỏ lại phía sau trong thời đại số; làm thế nào để kho tư
liệu của Tạp chí Cửa Việt và Tạp chí Nhật Lệ trước hợp nhất tiếp tục được số
hóa, tổ chức, kết nối và đưa trở lại đời sống văn học nghệ thuật hôm nay. Quan
điểm xuyên suốt của bài viết cũng là một lời nhắc đáng suy ngẫm: công nghệ chỉ
có ý nghĩa khi giúp nội dung có thêm đời sống, còn con người vẫn phải là chủ thể
quyết định.
Hướng đến kỷ niệm 100 năm hình thành và phát triển cà phê
Khe Sanh, Tạp chí Nhật Lệ giới thiệu bài viết Cà phê Khe Sanh, chắp nhặt dông
dài… của nhà báo Đào Tâm Thanh lần theo hành trình một trăm năm của cây cà
phê trên vùng đất từng là chiến trường khốc liệt. Từ những ký ức chiến tranh đến
những đồi cà phê xanh hôm nay, con người đã gây dựng nên một sinh kế, một
thương hiệu và một niềm tự hào mới. Giới thiệu bản nhạc Hương cà phê Khe Sanh,
nhạc của Văn Sỹ, lời thơ của Nguyễn Đăng Quang.
Chuyên mục Người và đất quê hương số này khá dày dặn với các
bài viết chuyên sâu. Bài viết Dưa hấu phường Hữu Cung - phẩm vật tiến vua của
tác giả Trần Hùng lại lần tìm một lớp trầm tích khác của vùng đất Quảng Bình
xưa qua sử liệu triều Nguyễn. Từ quả dưa quen thuộc trong đời sống hôm nay, bài
viết mở ra câu chuyện về sản vật từng được tuyển chọn làm tiến phẩm, qua đó cho
thấy trong những điều bình dị của quê hương đôi khi ẩn chứa cả một chiều sâu lịch
sử, văn hóa cần được nhận diện và gìn giữ.
Bìa 2 tạp chí giới thiệu Dấu ấn sơn mài trong tranh Trịnh Hoàng
Tân, ông là họa sĩ đã đạt nhiều giải thưởng ở khu vực và trung ương, là họa sĩ đầu
tiên của Quảng Trị được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học, Nghệ thuật.
Bìa 3 là những bóng hình người phụ nữ Quảng Trị, là người vợ, người mẹ tảo tần
sớm hôm. Bìa 4 số này Tạp chí tiếp tục giới thiệu các tác phẩm mỹ thuật của họa
sĩ Quảng Trị dự triển lãm Bắc miền Trung năm 2026. Bìa 1 giới thiệu tranh sơn mài
Màu nắng của họa sĩ Nguyễn Đình Dàng, tác phẩm mang vẻ đẹp trữ tình, giàu chất
thơ, gợi lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam dịu dàng, thanh khiết giữa không
gian sen nở.
Số báo còn có các chuyên mục âm nhạc, mỹ thuật, nhiếp ảnh và
nhiều bài viết hấp dẫn khác. Mời quý vị và các bạn tìm đọc Tạp chí Nhật Lệ số
11, phát hành tháng 10, năm 2026.
