Ông là người từng lăn lóc quăng quật lớn lên ở đôi bờ Bến Hải, am tường từng hòn cuội, lạch nước ở suối nguồn. Văn hóa của mảnh đất này đã thấm sâu vào căn cốt con người ông, được ông chắt ra trong từng con chữ, từng trang sách để đời. Ông cũng là tác giả của nhiều kịch bản sân khấu quen thuộc với các nhà hát, đoàn kịch và công chúng yêu sân khấu cả nước.

Năm
1996, trong một chuyến công tác dọc con đường trung tâm đi qua Quảng Bình rồi tới
Hà Tĩnh, hình ảnh những đô thị heo hắt đã găm sâu vào tâm trí tôi. Các tỉnh
ngày ấy còn nghèo, nhưng văn hóa lại “giàu có”, mỗi tỉnh đều có một tư lệnh
ngành tài hoa, hội đủ các “ngón nghề”. Mỗi lần ghé qua, là một lần văn hóa gặp
văn hóa. Đến Quảng Bình thì gặp nhà thơ Văn Lợi; ra Hà Tĩnh có nhà thơ, nhà viết
kịch Xuân Hoài; ghé Nghệ An có nhạc sĩ Hồ Hữu Thới; tới Ninh Bình lại có nhà viết
kịch Đăng Thanh… Và Quảng Trị có nhà văn Xuân Đức - một nhà văn quân đội, thuộc
thế hệ học viên đầu tiên của Trường Viết văn Nguyễn Du, đã vinh dự được trao tặng
Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.
Hơn mười năm tôi lái xe phục vụ ông, còn khó khăn nào trong nghề
mà tôi chưa vượt qua! Đến cả việc vừa lái xe vừa nghe ông đọc bản thảo, vừa lái
xe vừa nghe ông khai thác tâm lý; rồi phải biết thức khuya, biết pha trà, biết
chọn món ăn… việc gì tôi cũng làm. Nhà văn khi đã viết thì nhu cầu trò chuyện
là cực kỳ lớn, nếu bắt đúng mạch văn, có lúc họ sẽ sa lầy giữa một rừng chữ
nghĩa, mục đích cũng là để khai thác và dẫn dắt tâm lý người khác vào câu chuyện
của mình. Đã vậy, bất kể thời gian hay địa điểm nào, nhu cầu sáng tác của ông
cũng có thể bộc phát. Vì thế, người lái xe như tôi đã nghe thì phải cố mà hiểu,
mà đã hiểu thì phải đóng vai người biết - đây chính là thử thách khó nhất.
Chiếc xe tôi lái không chỉ là phương tiện phục vụ công việc, mà
nó còn như một nhân chứng. Trong xe luôn có sẵn một cây thuốc Jet, một bộ ấm
chén và một gói trà. Từ nhà ra thủ đô, có thời điểm hộc đựng tàn lên tới gần
hai mươi mẩu đầu lọc và khi ông hút thuốc thì không được hé kính xe xuống! Còn
bộ ấm chén lại là một câu chuyện thú vị khác trong việc phục vụ. Tính tôi vốn sạch
sẽ, mỗi lần ông uống trà xong là tôi kỳ cọ cho màu sứ bóng lên mới thôi. Ông thấy
vậy liền gạt đi: “Để rứa, để rứa, uống trà mà sạch quá thì đúng nhà quê!” Kể từ
đó, bộ ấm chén cứ úa màu dần theo thời gian. Một gã lái xe non choẹt như tôi
ngày ấy cứ nghệt mặt nghe ông luận về trà nạm, trà bốc, trà nhón, trà ba ngón,
trà hai ngón, rồi trà một ngón. Nghe ông nói về “nạm” và các “ngón”, tôi đã hiểu
ngụ ý của các cụ xưa khi thưởng trà - đại ý là trà nhạt thì phải vốc một lượng
lớn (nạm) mới đậm vị, còn ngược lại thì cũng trình tự giảm dần của ngón tay.
Riêng loại “trà một ngón” thì thực sự làm tôi rất tò mò. Ông đưa một ngón tay
lên lè lưỡi quệt một chút nước bọt, rồi xỏ vào lọ đựng trà. Khi rút ngón tay
ra, vài sợi trà cong queo dính đầu ngón, ông tỉnh bơ bảo: “Rứa thôi!”.
Nhưng đó mới chỉ là những sở thích nho nhỏ, cái sở thích này mới
đáng kể: Ai đời, ra giữa thủ đô mà ông gợi ý tài xế tìm một khách sạn yên tĩnh,
khi ngủ dậy có tiếng gà gáy! Biết tìm đâu ra sự yên tĩnh và tiếng gà gáy trưa,
gáy sáng giữa thủ đô tấp nập?
Tôi
nhớ trong các tác phẩm văn học của ông thường nhắc tới rừng. Là một nhà văn
quân đội, phần nhiều chất liệu sáng tác của ông đều từ âm thanh của tiếng vọng
xa xôi nơi rừng núi, từ bóng tối của một đêm rừng u tịch, từ tiếng suối róc
rách, từ sự động đậy của đại ngàn, hay từ một ngôi làng nơi bìa rừng có làn
khói trắng ngoằn ngoèo bay lên… Ông rất cần một tiếng gà gáy, kể cả khi đang ở
giữa thủ đô sầm uất. Nhìn vào các tiểu thuyết của ông như Cửa gió, Người không mang họ, Những mảnh làng, Tượng đồng đen một
chân, hay Bến đò xưa lặng lẽ (nhiều tác phẩm
trong số đó đã được chuyển thể thành phim), tôi đều thấy chúng đậm đà, gần gũi
những điều giản dị như thế.
Hôm đó, sau khi đun nước pha trà để sẵn, thấy ông ngả lưng trên
ghế, chân gác qua thành giường, tay cầm quyển sách, tôi liền lẻn ra ngoài. Được
chị nhân viên phục vụ chỉ lối, tôi ra cuối phố Liễu Giai có chợ gà quê chọn mua
một chú gà trống. Để ông nghe rõ tiếng gà gáy, tôi bí mật nhốt nó ngay phía
ngoài cửa sổ, sát cạnh giường ông nằm. Tôi đâu dám khoe thành tích đi mua gà,
chỉ tự đắc vì mình vừa hoàn thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Nhưng oái oăm
thay, mới gần nửa đêm, chú gà đã dồn dập gáy toe toe. Ban đầu ông ngạc nhiên, tủm
tỉm đắc ý nói: Cầu được ước thấy, thủ đô mà cũng có gà gáy! Nhưng rồi họa tới
ngay sau đó. Như muốn ghi điểm, chú gà gáy cả đêm, không cho ông ngủ. Tôi đành
lẳng lặng dời nó ra xa cửa sổ…
Những
sở thích của ông nhiều khi cũng thiếu thực tế và gây ra không ít phiền phức. Thế
nhưng, đổi lại, sản phẩm được hình thành từ các thói quen ấy lại khiến một người
phục vụ như tôi cảm thấy vô cùng tự hào. Bằng sự nhạy cảm của một nhà văn, kết
hợp với bản lĩnh chính trị và sự quyết liệt của một người lãnh đạo, ông đã khởi
tạo và định danh những thương hiệu văn hóa không chỉ gói gọn trong không gian một
tỉnh, mà đã vươn tầm quốc gia và quốc tế. Từ Liên hoan Tiếng hát
Đường 9 xanh, Lễ hội Huyền thoại Trường Sơn, Lễ hội Thống nhất
non sông cho đến những nhịp cầu hữu nghị như Lễ hội Nhịp cầu
xuyên Á, Liên hoan Nghệ thuật ba nước Đông Dương... Tất cả đã trở
thành những dấu ấn văn hóa mang tầm vóc thời đại, khắc sâu vào tiềm thức của biết
bao người.
Trong lời khai mạc lễ hội Nhịp cầu xuyên Á lần đầu tiên, ông đã
viết: “Quảng Trị - cửa ngõ của tuyến hành lang Đông - Tây, nằm trên vĩ tuyến
17. Là tỉnh có trục đường xuyên Á đi qua, đồng thời cũng là chiếc đòn gánh nối
liền các tỉnh miền Trung nước Việt có nhiều di sản văn hóa thế giới được UNESCO
công nhận: phía bắc là Phong Nha - Kẻ Bàng; phía nam là Cố đô Huế, thánh địa Mỹ
Sơn, phố cổ Hội An... Quảng Trị cũng là nơi có nhiều di tích văn hóa danh thắng
nổi tiếng như: nhà thờ La Vang, tổ đình Sắc Tứ, khu bảo tồn thiên nhiên
Đakrông, bãi tắm Cửa Tùng và nhiều di tích lịch sử đặc biệt quan trọng: Thành Cổ
Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc, đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử, cầu Hiền Lương Bến
Hải. Đây cũng là mảnh đất có nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống mang
đậm bản sắc dân tộc”.
Xác
định như vậy, ông nung nấu và lặng lẽ nuôi ý tưởng cho từng sự kiện. Để chuẩn bị
cho một Lễ hội Thống nhất non sông mang tầm quốc gia,
năm đầu tiên ông chọn một góc ở bờ bắc, rồi một điểm ở bờ nam sông Bến Hải,
thay phiên ngồi để… uống trà! Tôi ngồi đợi ông, khi thì đợi từ rạng đông, có
khi từ lúc mặt trời gác núi, đợi cho tới khi ông “uống trà” thỏa mãn mới quay về.
Năm thứ hai, rồi năm thứ ba, thứ tư… vẫn diễn ra y như thế. Ông uống trà mà
tính ra được giờ nào thì nước lớn, nước ròng; giờ nào gió đổi hướng thay chiều,
thậm chí giờ nào sẽ có mưa giông. Ông đếm từng bước chân từ nơi tế lễ tới bến
nước, đồng thời canh sao cho điệu hò đưa linh vừa dứt thì cũng là lúc hoa đăng
được thả xuống dòng Bến Hải… Từ những buổi ngồi uống trà ấy, kế hoạch và kịch bản
cho Lễ hội Thống nhất non sông lần thứ nhất, thứ
hai, rồi những lần tiếp theo được hoàn thành. Để rồi Hiền Lương bây giờ đã trở
thành điểm hẹn của cả nước vào ngày 30 tháng 4.
Một
lễ hội dành cho người sống thưởng thức mà ông đã trăn trở, tỉ mẩn như thế thì với
người đã khuất, ông lại càng đau đáu hơn. Lúc đó, mấy ai nghĩ sẽ có một lễ hội
cho những người đã khuất. Nhưng nhà văn Xuân Đức đã muốn làm một lễ hội riêng
cho các liệt sĩ, người sống có mặt chỉ đóng vai trò chứng kiến. Thế là vào một
chiều tà tháng 7 năm 2004, ông gọi tôi đưa đi Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường
Sơn. Chiều hôm ấy mưa nguồn bất chợt, tới nơi lá thông còn rũ xuống ẩm ướt. Chọn
một chỗ ngồi trước sân hành lễ trong bóng chiều chạng vạng, ông lặng lẽ chờ. Sự
tĩnh lặng và không gian thiêng liêng đó chính là lúc ý tưởng về lễ hội Huyền thoại cõi Trường
Sơn bắt đầu nhen nhóm và thành hình trong tâm trí ông. Ngày đó, cầu truyền
hình là một hình thức phát sóng còn mới mẻ, để tổ chức một đêm lễ tại núi non
Trường Sơn Quảng Trị không khác gì làm ở ngoài hải đảo xa xôi. Đạo diễn truyền
hình Lại Văn Sâm vào khảo sát thực địa trước cả tháng trời. Ông ấy có nét gì đó
hao hao giống giám đốc của tôi, hai người họ tâm đầu ý hợp trong các ý tưởng
nghệ thuật. Tôi ngồi trong xe nhìn lên bậc đá trước sân hành lễ, dõi theo hai
người đạo diễn huơ tay chỉ trỏ. Họ chờ mặt trời lặn, cho tới khi cánh rừng đổi
màu nhường chỗ cho màn đêm mới cùng nhau ra về. Ngồi trên xe, hai người trao đổi
về sợi nắng vàng cuối cùng, về những tán lá thông, về áng mây quanh dãy núi
phía xa và địa hình nơi sảnh đón; họ nói về những con robot ánh sáng, về cường
độ và hiệu ứng của nó… Từ ghế sau tiếng cười sảng khoái của họ khiến tôi vui
lây.
Mười
tám giờ tối 27/7/2004, dòng chữ Huyền thoại cõi Trường
Sơn xuất hiện trực tiếp trên sóng truyền hình cả nước trong sự ngỡ ngàng,
xúc động của khán giả. Lồng ghép trong chương trình có hình ảnh sợi nắng vàng
cuối cùng xiên qua áng mây quanh dãy núi xa rồi tan biến, tán lá thông ôm lấy
sân khấu thực cảnh và những con robot dùng hiệu ứng ánh sáng trang điểm thêm
cho cánh rừng ban đêm. Cả nghĩa trang với mười khu mộ được bao phủ 140.000 mét
vuông rừng thông lung linh ánh nến và âm thanh dìu dặt. Tư lệnh đường Trường Sơn
huyền thoại - Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên xúc động nói: Lần đầu tiên có một
chương trình truyền hình được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ, đây là sự sáng tạo
độc nhất vô nhị!
Sự sáng tạo của nhà văn Xuân Đức là kiểu sáng tạo để lưu truyền
và thúc đẩy - một hành trình luôn hướng về con người và vì một xã hội gắn kết,
sẻ chia. Với tư duy của người “lắm trò nhiều chiêu”, ông tiếp tục đề xuất một ý
tưởng chưa ai nghĩ tới: Tổ chức lễ hội cho người khuyết tật.
Hội thi văn hóa, thể thao người khuyết tật toàn quốc lần đầu
tiên diễn ra năm 1997 tại Quảng Trị là một hội thi “cây nhà lá vườn”. Cũng có
sân khấu, đạo cụ và lực lượng diễn viên hoành tráng, cũng tạo nên những dư âm rền
vang… Thế nhưng tất cả không phải được làm nên bằng công nghệ sân khấu thực tế ảo,
hay công nghệ ánh sáng và chuyển động khuấy đảo không gian như bây giờ. Thứ làm
nên thành công của lễ hội năm ấy chính là sự “thân thương, hiền lành, giản dị”.
Giữa quảng trường trung tâm văn hóa bạc phếch màu bê tông, một ông thợ quét vôi
đã lê lết mấy ngày để nhuộm mặt sân thành màu xanh giả làm biển cả; diễn viên
thì phải huy động thêm người lao động và cán bộ công chức cùng đóng khố múa cồng
chiêng, diễn kịch; đạo cụ đồng diễn được làm từ những cuộn dây bao cát nhiều
màu, cắt ngắn rồi lấy bàn chải sắt đánh mịn buộc lại thành từng chùm; những chiếc
xe ba gác thì thuê ngay ngoài góc đường; cho đến nồi niêu, thúng mủng của bà
con… đều được hóa trang thành thuyền bè, thành hoa thơm trái ngọt. Hội thi năm
đó, Quảng Trị đứng thứ nhất. Và cũng năm đó ngành Văn hóa - Thông tin đón nhận
Huân chương Lao động hạng Nhất. Thành quả đã giải thích cho kiểu tính cách chẳng
giống ai của nhà văn Xuân Đức.
Từ những năm 2000, Quảng Trị nổi tiếng cả nước về cách “làm văn
hóa”. Hậu quả từ chiến tranh, thiên tai… dường như không còn đáng ngại nữa, mà
một phần nào đó văn hóa đã biến khó khăn thành lợi thế. Nhà văn Xuân Đức liên tục
cho ra đời những lễ hội ý nghĩa. Chất liệu xây dựng nên những lễ hội đó chính
là vùng đất được mệnh danh “cối xay thịt”, nơi “xuống đất thấy trời”, nơi “mỗi
người phải đội bảy tấn bom”. Những năm tháng đó, chiếc xe Mazda 323 tôi lái hỏng
giảm xóc, một phần cũng do… chở bằng khen! Tôi cũng vinh dự được vào Nhà hát Lớn
Hà Nội ngồi dự các buổi thi thố, tổng kết vinh danh của ngành mới có cơ hội chứng
kiến thủ trưởng mình tài hoa nằm ở cái tầm. Có một lần ông “lẫy” Bộ Văn hóa -
Thông tin. Lý do thật hay: vì Quảng Trị liên tục làm tốt nên năm nào cũng cầm cờ,
bằng khen của Bộ, nếu năm nay lại tiếp tục khen nữa thì các tỉnh khác còn đâu động
lực mà phấn đấu!
* * *
Tôi
lấy xuống khỏi giá những cuốn sách của ông, lời đề tặng cho người lái xe còn
nguyên màu mực. Có lẽ người đời khó quên ông bởi sự đặc biệt: Gàn dở chẳng giống
ai, luôn bắt người khác phải đợi chờ để rồi nhận lại những bất ngờ thú vị. Ông
muốn tác phẩm của mình, thông điệp từ trong những cuốn sách của mình xuất hiện ở
khắp nơi với nhiều thứ tiếng, nhưng còn dở dang… Cuối cùng ông đã nhận Chứng chỉ thời gian để quay về với Bến đò xưa lặng lẽ!
Tôi
mượn một đoạn văn hay trong một bản dịch của cuốn tiểu thuyết Tiếng chim hót trong
bụi mận gai để khép lại bài viết: “Khi vừa rời tổ, nó
bay đi tìm một bụi mận gai duy nhất, và khi tìm thấy, nó lao mình vào nhánh gai
sắc nhất. Khi gai đâm xuyên tim, nó cất lên bài ca hay nhất cuộc đời, một khúc
ca làm rung động cả đất trời. Nhưng chỉ sau khoảnh khắc ấy, nó lịm đi, bỏ lại
phía sau vẻ đẹp vô song của tiếng hót”. Sự liên tưởng này,
có lẽ xuất phát từ lòng trân quý của tôi dành cho tài năng và những cống hiến của
ông. Khi sự tồn tại hữu hạn của một con người nằm bên cạnh những giá trị văn
hóa mà họ để lại, thì thứ di sản còn lại ấy cũng như âm thanh trong trẻo và
vang vọng nhất!
Đ.D.L
