Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Nhà văn Xuân Đức - dấu ấn một chặng đường

ĐOÀN DUY LONG    16/08/2026    65
Tôi vào ngành Văn hóa Thông tin tỉnh Quảng Trị đúng lúc Nghệ sĩ Nhân dân, đạo diễn Xuân Đàm - một trong những tên tuổi lớn của nền sân khấu đương đại Việt Nam vừa rời cương vị Giám đốc Sở để nghỉ hưu. Ngỡ rằng ngành sẽ thiếu vắng một nhà văn hóa tài năng, thế nhưng vị trí ấy lại được kế tục ngay bởi một người con ưu tú khác của quê hương: nhà văn, nhà viết kịch Xuân Đức.

Ông là người từng lăn lóc quăng quật lớn lên ở đôi bờ Bến Hải, am tường từng hòn cuội, lạch nước ở suối nguồn. Văn hóa của mảnh đất này đã thấm sâu vào căn cốt con người ông, được ông chắt ra trong từng con chữ, từng trang sách để đời. Ông cũng là tác giả của nhiều kịch bản sân khấu quen thuộc với các nhà hát, đoàn kịch và công chúng yêu sân khấu cả nước.

Nhà văn Xuân Đức - Ảnh tư liệu
Nhà văn Xuân Đức - Ảnh tư liệu

Năm 1996, trong một chuyến công tác dọc con đường trung tâm đi qua Quảng Bình rồi tới Hà Tĩnh, hình ảnh những đô thị heo hắt đã găm sâu vào tâm trí tôi. Các tỉnh ngày ấy còn nghèo, nhưng văn hóa lại “giàu có”, mỗi tỉnh đều có một tư lệnh ngành tài hoa, hội đủ các “ngón nghề”. Mỗi lần ghé qua, là một lần văn hóa gặp văn hóa. Đến Quảng Bình thì gặp nhà thơ Văn Lợi; ra Hà Tĩnh có nhà thơ, nhà viết kịch Xuân Hoài; ghé Nghệ An có nhạc sĩ Hồ Hữu Thới; tới Ninh Bình lại có nhà viết kịch Đăng Thanh… Và Quảng Trị có nhà văn Xuân Đức - một nhà văn quân đội, thuộc thế hệ học viên đầu tiên của Trường Viết văn Nguyễn Du, đã vinh dự được trao tặng Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.

Hơn mười năm tôi lái xe phục vụ ông, còn khó khăn nào trong nghề mà tôi chưa vượt qua! Đến cả việc vừa lái xe vừa nghe ông đọc bản thảo, vừa lái xe vừa nghe ông khai thác tâm lý; rồi phải biết thức khuya, biết pha trà, biết chọn món ăn… việc gì tôi cũng làm. Nhà văn khi đã viết thì nhu cầu trò chuyện là cực kỳ lớn, nếu bắt đúng mạch văn, có lúc họ sẽ sa lầy giữa một rừng chữ nghĩa, mục đích cũng là để khai thác và dẫn dắt tâm lý người khác vào câu chuyện của mình. Đã vậy, bất kể thời gian hay địa điểm nào, nhu cầu sáng tác của ông cũng có thể bộc phát. Vì thế, người lái xe như tôi đã nghe thì phải cố mà hiểu, mà đã hiểu thì phải đóng vai người biết - đây chính là thử thách khó nhất.

Chiếc xe tôi lái không chỉ là phương tiện phục vụ công việc, mà nó còn như một nhân chứng. Trong xe luôn có sẵn một cây thuốc Jet, một bộ ấm chén và một gói trà. Từ nhà ra thủ đô, có thời điểm hộc đựng tàn lên tới gần hai mươi mẩu đầu lọc và khi ông hút thuốc thì không được hé kính xe xuống! Còn bộ ấm chén lại là một câu chuyện thú vị khác trong việc phục vụ. Tính tôi vốn sạch sẽ, mỗi lần ông uống trà xong là tôi kỳ cọ cho màu sứ bóng lên mới thôi. Ông thấy vậy liền gạt đi: “Để rứa, để rứa, uống trà mà sạch quá thì đúng nhà quê!” Kể từ đó, bộ ấm chén cứ úa màu dần theo thời gian. Một gã lái xe non choẹt như tôi ngày ấy cứ nghệt mặt nghe ông luận về trà nạm, trà bốc, trà nhón, trà ba ngón, trà hai ngón, rồi trà một ngón. Nghe ông nói về “nạm” và các “ngón”, tôi đã hiểu ngụ ý của các cụ xưa khi thưởng trà - đại ý là trà nhạt thì phải vốc một lượng lớn (nạm) mới đậm vị, còn ngược lại thì cũng trình tự giảm dần của ngón tay. Riêng loại “trà một ngón” thì thực sự làm tôi rất tò mò. Ông đưa một ngón tay lên lè lưỡi quệt một chút nước bọt, rồi xỏ vào lọ đựng trà. Khi rút ngón tay ra, vài sợi trà cong queo dính đầu ngón, ông tỉnh bơ bảo: “Rứa thôi!”.

Nhưng đó mới chỉ là những sở thích nho nhỏ, cái sở thích này mới đáng kể: Ai đời, ra giữa thủ đô mà ông gợi ý tài xế tìm một khách sạn yên tĩnh, khi ngủ dậy có tiếng gà gáy! Biết tìm đâu ra sự yên tĩnh và tiếng gà gáy trưa, gáy sáng giữa thủ đô tấp nập?

Tôi nhớ trong các tác phẩm văn học của ông thường nhắc tới rừng. Là một nhà văn quân đội, phần nhiều chất liệu sáng tác của ông đều từ âm thanh của tiếng vọng xa xôi nơi rừng núi, từ bóng tối của một đêm rừng u tịch, từ tiếng suối róc rách, từ sự động đậy của đại ngàn, hay từ một ngôi làng nơi bìa rừng có làn khói trắng ngoằn ngoèo bay lên… Ông rất cần một tiếng gà gáy, kể cả khi đang ở giữa thủ đô sầm uất. Nhìn vào các tiểu thuyết của ông như Cửa gió, Người không mang họ, Những mảnh làng, Tượng đồng đen một chân, hay Bến đò xưa lặng lẽ (nhiều tác phẩm trong số đó đã được chuyển thể thành phim), tôi đều thấy chúng đậm đà, gần gũi những điều giản dị như thế.

Hôm đó, sau khi đun nước pha trà để sẵn, thấy ông ngả lưng trên ghế, chân gác qua thành giường, tay cầm quyển sách, tôi liền lẻn ra ngoài. Được chị nhân viên phục vụ chỉ lối, tôi ra cuối phố Liễu Giai có chợ gà quê chọn mua một chú gà trống. Để ông nghe rõ tiếng gà gáy, tôi bí mật nhốt nó ngay phía ngoài cửa sổ, sát cạnh giường ông nằm. Tôi đâu dám khoe thành tích đi mua gà, chỉ tự đắc vì mình vừa hoàn thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn. Nhưng oái oăm thay, mới gần nửa đêm, chú gà đã dồn dập gáy toe toe. Ban đầu ông ngạc nhiên, tủm tỉm đắc ý nói: Cầu được ước thấy, thủ đô mà cũng có gà gáy! Nhưng rồi họa tới ngay sau đó. Như muốn ghi điểm, chú gà gáy cả đêm, không cho ông ngủ. Tôi đành lẳng lặng dời nó ra xa cửa sổ…

Những sở thích của ông nhiều khi cũng thiếu thực tế và gây ra không ít phiền phức. Thế nhưng, đổi lại, sản phẩm được hình thành từ các thói quen ấy lại khiến một người phục vụ như tôi cảm thấy vô cùng tự hào. Bằng sự nhạy cảm của một nhà văn, kết hợp với bản lĩnh chính trị và sự quyết liệt của một người lãnh đạo, ông đã khởi tạo và định danh những thương hiệu văn hóa không chỉ gói gọn trong không gian một tỉnh, mà đã vươn tầm quốc gia và quốc tế. Từ Liên hoan Tiếng hát Đường 9 xanh, Lễ hội Huyền thoại Trường Sơn, Lễ hội Thống nhất non sông cho đến những nhịp cầu hữu nghị như Lễ hội Nhịp cầu xuyên Á, Liên hoan Nghệ thuật ba nước Đông Dương... Tất cả đã trở thành những dấu ấn văn hóa mang tầm vóc thời đại, khắc sâu vào tiềm thức của biết bao người.

Trong lời khai mạc lễ hội Nhịp cầu xuyên Á lần đầu tiên, ông đã viết: “Quảng Trị - cửa ngõ của tuyến hành lang Đông - Tây, nằm trên vĩ tuyến 17. Là tỉnh có trục đường xuyên Á đi qua, đồng thời cũng là chiếc đòn gánh nối liền các tỉnh miền Trung nước Việt có nhiều di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận: phía bắc là Phong Nha - Kẻ Bàng; phía nam là Cố đô Huế, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An... Quảng Trị cũng là nơi có nhiều di tích văn hóa danh thắng nổi tiếng như: nhà thờ La Vang, tổ đình Sắc Tứ, khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, bãi tắm Cửa Tùng và nhiều di tích lịch sử đặc biệt quan trọng: Thành Cổ Quảng Trị, địa đạo Vịnh Mốc, đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử, cầu Hiền Lương Bến Hải. Đây cũng là mảnh đất có nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc”.

Xác định như vậy, ông nung nấu và lặng lẽ nuôi ý tưởng cho từng sự kiện. Để chuẩn bị cho một Lễ hội Thống nhất non sông mang tầm quốc gia, năm đầu tiên ông chọn một góc ở bờ bắc, rồi một điểm ở bờ nam sông Bến Hải, thay phiên ngồi để… uống trà! Tôi ngồi đợi ông, khi thì đợi từ rạng đông, có khi từ lúc mặt trời gác núi, đợi cho tới khi ông “uống trà” thỏa mãn mới quay về. Năm thứ hai, rồi năm thứ ba, thứ tư… vẫn diễn ra y như thế. Ông uống trà mà tính ra được giờ nào thì nước lớn, nước ròng; giờ nào gió đổi hướng thay chiều, thậm chí giờ nào sẽ có mưa giông. Ông đếm từng bước chân từ nơi tế lễ tới bến nước, đồng thời canh sao cho điệu hò đưa linh vừa dứt thì cũng là lúc hoa đăng được thả xuống dòng Bến Hải… Từ những buổi ngồi uống trà ấy, kế hoạch và kịch bản cho Lễ hội Thống nhất non sông lần thứ nhất, thứ hai, rồi những lần tiếp theo được hoàn thành. Để rồi Hiền Lương bây giờ đã trở thành điểm hẹn của cả nước vào ngày 30 tháng 4.

Một lễ hội dành cho người sống thưởng thức mà ông đã trăn trở, tỉ mẩn như thế thì với người đã khuất, ông lại càng đau đáu hơn. Lúc đó, mấy ai nghĩ sẽ có một lễ hội cho những người đã khuất. Nhưng nhà văn Xuân Đức đã muốn làm một lễ hội riêng cho các liệt sĩ, người sống có mặt chỉ đóng vai trò chứng kiến. Thế là vào một chiều tà tháng 7 năm 2004, ông gọi tôi đưa đi Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. Chiều hôm ấy mưa nguồn bất chợt, tới nơi lá thông còn rũ xuống ẩm ướt. Chọn một chỗ ngồi trước sân hành lễ trong bóng chiều chạng vạng, ông lặng lẽ chờ. Sự tĩnh lặng và không gian thiêng liêng đó chính là lúc ý tưởng về lễ hội Huyền thoại cõi Trường Sơn bắt đầu nhen nhóm và thành hình trong tâm trí ông. Ngày đó, cầu truyền hình là một hình thức phát sóng còn mới mẻ, để tổ chức một đêm lễ tại núi non Trường Sơn Quảng Trị không khác gì làm ở ngoài hải đảo xa xôi. Đạo diễn truyền hình Lại Văn Sâm vào khảo sát thực địa trước cả tháng trời. Ông ấy có nét gì đó hao hao giống giám đốc của tôi, hai người họ tâm đầu ý hợp trong các ý tưởng nghệ thuật. Tôi ngồi trong xe nhìn lên bậc đá trước sân hành lễ, dõi theo hai người đạo diễn huơ tay chỉ trỏ. Họ chờ mặt trời lặn, cho tới khi cánh rừng đổi màu nhường chỗ cho màn đêm mới cùng nhau ra về. Ngồi trên xe, hai người trao đổi về sợi nắng vàng cuối cùng, về những tán lá thông, về áng mây quanh dãy núi phía xa và địa hình nơi sảnh đón; họ nói về những con robot ánh sáng, về cường độ và hiệu ứng của nó… Từ ghế sau tiếng cười sảng khoái của họ khiến tôi vui lây.

Mười tám giờ tối 27/7/2004, dòng chữ Huyền thoại cõi Trường Sơn xuất hiện trực tiếp trên sóng truyền hình cả nước trong sự ngỡ ngàng, xúc động của khán giả. Lồng ghép trong chương trình có hình ảnh sợi nắng vàng cuối cùng xiên qua áng mây quanh dãy núi xa rồi tan biến, tán lá thông ôm lấy sân khấu thực cảnh và những con robot dùng hiệu ứng ánh sáng trang điểm thêm cho cánh rừng ban đêm. Cả nghĩa trang với mười khu mộ được bao phủ 140.000 mét vuông rừng thông lung linh ánh nến và âm thanh dìu dặt. Tư lệnh đường Trường Sơn huyền thoại - Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên xúc động nói: Lần đầu tiên có một chương trình truyền hình được tổ chức tại nghĩa trang liệt sĩ, đây là sự sáng tạo độc nhất vô nhị!

Sự sáng tạo của nhà văn Xuân Đức là kiểu sáng tạo để lưu truyền và thúc đẩy - một hành trình luôn hướng về con người và vì một xã hội gắn kết, sẻ chia. Với tư duy của người “lắm trò nhiều chiêu”, ông tiếp tục đề xuất một ý tưởng chưa ai nghĩ tới: Tổ chức lễ hội cho người khuyết tật.

Hội thi văn hóa, thể thao người khuyết tật toàn quốc lần đầu tiên diễn ra năm 1997 tại Quảng Trị là một hội thi “cây nhà lá vườn”. Cũng có sân khấu, đạo cụ và lực lượng diễn viên hoành tráng, cũng tạo nên những dư âm rền vang… Thế nhưng tất cả không phải được làm nên bằng công nghệ sân khấu thực tế ảo, hay công nghệ ánh sáng và chuyển động khuấy đảo không gian như bây giờ. Thứ làm nên thành công của lễ hội năm ấy chính là sự “thân thương, hiền lành, giản dị”. Giữa quảng trường trung tâm văn hóa bạc phếch màu bê tông, một ông thợ quét vôi đã lê lết mấy ngày để nhuộm mặt sân thành màu xanh giả làm biển cả; diễn viên thì phải huy động thêm người lao động và cán bộ công chức cùng đóng khố múa cồng chiêng, diễn kịch; đạo cụ đồng diễn được làm từ những cuộn dây bao cát nhiều màu, cắt ngắn rồi lấy bàn chải sắt đánh mịn buộc lại thành từng chùm; những chiếc xe ba gác thì thuê ngay ngoài góc đường; cho đến nồi niêu, thúng mủng của bà con… đều được hóa trang thành thuyền bè, thành hoa thơm trái ngọt. Hội thi năm đó, Quảng Trị đứng thứ nhất. Và cũng năm đó ngành Văn hóa - Thông tin đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất. Thành quả đã giải thích cho kiểu tính cách chẳng giống ai của nhà văn Xuân Đức.

Từ những năm 2000, Quảng Trị nổi tiếng cả nước về cách “làm văn hóa”. Hậu quả từ chiến tranh, thiên tai… dường như không còn đáng ngại nữa, mà một phần nào đó văn hóa đã biến khó khăn thành lợi thế. Nhà văn Xuân Đức liên tục cho ra đời những lễ hội ý nghĩa. Chất liệu xây dựng nên những lễ hội đó chính là vùng đất được mệnh danh “cối xay thịt”, nơi “xuống đất thấy trời”, nơi “mỗi người phải đội bảy tấn bom”. Những năm tháng đó, chiếc xe Mazda 323 tôi lái hỏng giảm xóc, một phần cũng do… chở bằng khen! Tôi cũng vinh dự được vào Nhà hát Lớn Hà Nội ngồi dự các buổi thi thố, tổng kết vinh danh của ngành mới có cơ hội chứng kiến thủ trưởng mình tài hoa nằm ở cái tầm. Có một lần ông “lẫy” Bộ Văn hóa - Thông tin. Lý do thật hay: vì Quảng Trị liên tục làm tốt nên năm nào cũng cầm cờ, bằng khen của Bộ, nếu năm nay lại tiếp tục khen nữa thì các tỉnh khác còn đâu động lực mà phấn đấu!

* * *

Tôi lấy xuống khỏi giá những cuốn sách của ông, lời đề tặng cho người lái xe còn nguyên màu mực. Có lẽ người đời khó quên ông bởi sự đặc biệt: Gàn dở chẳng giống ai, luôn bắt người khác phải đợi chờ để rồi nhận lại những bất ngờ thú vị. Ông muốn tác phẩm của mình, thông điệp từ trong những cuốn sách của mình xuất hiện ở khắp nơi với nhiều thứ tiếng, nhưng còn dở dang… Cuối cùng ông đã nhận Chứng chỉ thời gian để quay về với Bến đò xưa lặng lẽ!

Tôi mượn một đoạn văn hay trong một bản dịch của cuốn tiểu thuyết Tiếng chim hót trong bụi mận gai để khép lại bài viết: “Khi vừa rời tổ, nó bay đi tìm một bụi mận gai duy nhất, và khi tìm thấy, nó lao mình vào nhánh gai sắc nhất. Khi gai đâm xuyên tim, nó cất lên bài ca hay nhất cuộc đời, một khúc ca làm rung động cả đất trời. Nhưng chỉ sau khoảnh khắc ấy, nó lịm đi, bỏ lại phía sau vẻ đẹp vô song của tiếng hót”. Sự liên tưởng này, có lẽ xuất phát từ lòng trân quý của tôi dành cho tài năng và những cống hiến của ông. Khi sự tồn tại hữu hạn của một con người nằm bên cạnh những giá trị văn hóa mà họ để lại, thì thứ di sản còn lại ấy cũng như âm thanh trong trẻo và vang vọng nhất!

Đ.D.L