Quê tôi ở vùng đất Quảng Trị vốn được mệnh danh là “Ô châu ác địa”. Mùa hè thì nắng cháy gió rát, mùa đông thì mưa dầm bão lụt. Sinh ra và lớn lên ở xứ sở thời tiết khắc nghiệt như thế đã tạo nên bản tính hay lo xa của người dân. Ăn bữa hôm lo bữa mai, lo chắt bóp vì tháng rộng năm dài, và lo năm hết Tết đến. Những tháng cuối năm bao giờ cũng rét mướt, ruộng vườn hoang hoải, cây lá úa tàn. Thế nên, để có cái Tết tươm tất đủ đầy, các gia đình phải lo chuẩn bị mọi thứ từ rất sớm nương theo thời tiết.
Chẳng biết chốn khác rục rịch đón Tết từ thời điểm nào, chứ ở quê tôi, cứ hễ qua mùa bão lụt đã thấy người quê chộn rộn xới đất trồng hoa màu. Tôi nhớ ông ngoại tôi, chừng sang giữa tháng mười âm lịch, khi những cơn bão lụt xem như đã dứt là ông sửa soạn xới đất, chẻ tre, rồi gánh triêng gióng đi quanh làng gom phân bò, phân trâu về ủ cho hoai mục để trồng hoa. Bà ngoại thì lo chuẩn bị hạt giống nào cải, ngò, ném… rồi đợi tiết trời ấm dần lên thì cuốc lại mảnh vườn đã ngấm phù sa sau mấy trận lụt để gieo hạt.
Tết ở quê hồi trước, người quê luôn tự túc mọi thứ, hoa cũng không đi mua mà tự trồng. Như ông tôi năm nào cũng tự tay trồng vài gốc vạn thọ, thược dược, lay ơn. Với ông, những loài hoa đó luôn luôn đại diện cho hình ảnh của Tết. Thường là vào giữa tháng mười âm lịch, ông sẽ tháo túm vạn thọ khô làm giống giắt trên chái bếp xuống. Túm hoa khô đó ông cất từ mùa hoa Tết năm trước, đến năm sau đem ra tước lấy hạt. Một vạt đất trước sân sẽ được lật lên rồi đánh thành luống để gieo hạt. Ông vừa trồng hoa, vừa kiêm luôn việc đúc chậu xi măng để sẵn. Chờ sang đầu tháng chạp, cây cứng cáp là bứng lên cho vào chậu tử tế, bày trước hiên nhà. Suốt cả tháng chạp ông quanh quẩn bên mấy cây vạn thọ. Những ngày đông giá, ông giữ ẩm cho cây bằng mùn rơm, sớm chiều hai cữ tưới nước ấm cho cây sớm nhú nụ.
Khi thời gian dần trôi về giữa tháng mười một âm lịch, thể nào cũng gặp vài hôm nắng ráo. Thế là ông tôi liền giao nhiệm vụ cho con cháu trảy lá cây mai trước ngõ. Trảy lá mai cũng còn tùy theo thời tiết. Năm nào mưa lạnh nhiều thì trảy lá sớm, năm nào nắng ấm nhiều thì trảy lá muộn. Trảy xong lá mai, ông lại nhắc nhủ mấy đứa cháu đi đào cát trắng về đãi sạch, phơi khô để đến Tết còn thay lư hương trên bàn thờ gia tiên. Thế là mấy chị em tôi lại rủ nhau ra cồn cát đầu làng, đào thật sâu lấy lớp cát trắng rồi chở về nhà. Cát đãi qua nhiều nước, đem phơi chừng hai nắng đã trắng phau. Cát đã phơi khô thì đem bỏ bao cất ở góc nhà, đến tầm 23 tháng chạp ông tôi sẽ lau dọn bàn thờ và thay cát mới vào lư hương.
Ăn gì trong mấy ngày Tết cũng phải lo sớm, chứ không đợi cận Tết mới chạy vạy. Chẳng gì cũng “đói giỗ cha, no ba ngày Tết”. Nghĩ thế nên người quê quanh năm làm lụng, chịu thương chịu khó cấy trồng, chăn nuôi để dành cho Tết. Ngày trước, hầu như nhà nào làm ruộng đều để chừng nửa sào cấy lúa nếp. Mùa màng gặt hái xong được chút nào là phơi khô, quạt sạch rồi cho vào sập cất kỹ. Nếp ngày ấy quý lắm, các gia đình để dành cho công việc cúng giỗ trong năm và để Tết gói bánh tét, xay bột làm các loại bánh cộ, bánh khô, bánh ít… Nhớ những tháng chạp trong ký ức tuổi thơ của tôi luôn thường trực hình dáng lui cui của ông bà ngoại trong nhiều công việc chuẩn bị cho nồi bánh tét ngày ba mươi Tết. Việc đầu tiên là mở sập lấy bao nếp cất trữ từ vụ hè thu đem đi xay. Sau đó, ông tôi ra sau chái nhà lựa những thanh củi to đã phơi khô từ mùa hè đem bổ để nấu bánh. Bổ củi xong, ông tôi lại ra bờ sông chọn một cây tre non về chẻ lạt gói bánh, cẩn thận nữa thì xếp lạt lên chái bếp nhuốm bồ hóng cho dẻo dai để khi buộc không bị gãy. Rồi lá chuối gói bánh cũng phải lo liệu sớm. Nhà ông bà có vườn khá rộng nên lá chuối phủ phê. Nhưng muốn có lá to, lành lặn, thì trước Tết độ vài tháng, ông bà đã dặn con cháu không được tùy tiện chặt lá, phải để dành lá gói bánh tét.
Năm nào ông bà tôi cũng gói chừng ba chục đòn bánh tét. Cả nhà ăn suốt cả tháng giêng mới hết bánh. Mà cái món bánh tét phải có thứ ăn kèm, không gì hợp bằng dưa món. Tranh thủ những buổi nắng hanh hiếm hoi của mùa đông, bà ngoại tôi ra vườn kiếm quả đu đủ xanh, xắt lát đem phơi nắng cho săn lại để làm dưa món. Năm nào trời mưa rét dai dẳng, chờ hoài chẳng thấy nắng mà phơi phóng, bà tôi sẽ cho đu đủ vào hong than. Hong đến lúc từng lát đu đủ héo queo, bà gói kỹ trong túi giấy cất vào góc chạn bếp. Rồi mỗi lần đi chợ quê, nghe giá củ kiệu, cà rốt, ớt trái rẻ một chút là bà tôi lại mua về cắt khúc, phơi khô để dành, gần Tết đem ra ngâm nước mắm đường là có ngay hũ dưa món thơm ngon.
Bản tính lo xa nên người quê luôn có một sự chuẩn bị từ sớm như vậy. Thậm chí nhiều thực phẩm phải vun vén ngay từ đầu năm. Hồi bé, cứ gần Tết tôi lại nghe các nhà trong xóm rủ nhau mổ một con lợn, thịt ra chia phần về ăn Tết. Mà thời ấy, lợn cho ăn cám gạo nấu cây chuối và rau khoai, sức lớn mỗi tháng chỉ vài cân. Nên để đạt trọng lượng nửa tạ thịt, các gia đình phải nuôi lợn từ đầu năm. Ngoài ra, ngày trước hầu như nhà nào ở quê cũng có vườn rộng để nuôi gà. Nhà nào khéo nuôi được đàn gà béo mầm sinh sản tốt, thì đến Tết có thể yên tâm. Vừa có gà cúng tất niên và giao thừa, vừa có thêm vài chục trứng gà nữa để đổ bánh thuẫn.
Không biết bao nhiêu là đủ cho một cái Tết, nhưng “khéo ăn thì no khéo co thì ấm”, ông tôi luôn nói như vậy. Gạo nếp ruộng quê, heo gà trong vườn, cải ngò ngoài nương, bánh trái dưa kiệu… người quê cứ lẳng lặng vun vén dần từng thứ. Đến giữa tháng chạp, khi mọi thứ đã hòm hòm đâu vào đấy, các bà các mẹ vẫn còn kiểm đếm xem còn thiếu thức gì để bổ sung trong phiên chợ cuối năm. Hầu như lúc này, chỉ còn mua thêm nhang đèn và các loại đồ khô như măng, miến, nấm mèo nữa là có ba ngày Tết xông xênh rồi.
Những ngày giáp Tết, ruộng lúa cũng đã được cày bừa gieo cấy xong xuôi. Trên cánh đồng, chỉ còn lơ thơ mấy bóng người vác bao tải đi lấy cỏ tích trữ cho trâu bò ăn hoặc vác cuốc be lại cái bờ để giữ nước cho thửa ruộng nhà trong mấy ngày Tết. Quanh năm đầu tắt mặt tối, vì vậy cuối năm ai cũng lo gấp rút làm cho xong công việc đồng áng để nghỉ ngơi, thảnh thơi ăn Tết. Xong việc đồng áng thì bắt đầu đi chạp mả tổ tiên, dọn dẹp trang trí nhà cửa, bày soạn gói bánh, mổ lợn chia thịt với xóm giềng… Tuần tự công việc cứ thế, cái nào lo trước cái nào lo sau, người quê thuộc rành rành. Ông tôi gọi đó là kinh nghiệm sống trên vùng đất “Ô châu ác địa”, “trời hành cơn lụt mỗi năm”.
Từ sau rằm tháng chạp, nhà nào cũng có cảm giác sao việc nhiều thế, hối hả làm chưa xong việc này đã thấy việc khác trước mắt. Nhưng lại cảm thấy rằng, chính những ngày trước Tết hình như lại vui hơn Tết, khi mà con người được sống trong một chuỗi không khí rộn ràng, tất bật, háo hức, xốn xang, trông ngóng khác lạ so với chuỗi ngày thường.
Sáng mùng một Tết, vào sân vườn nhà nào cũng đầy lộc biếc cành non, cây mai, vạn thọ nở đầy hoa vàng rực rung rinh trong nắng xuân. Vào nhà nào, nhìn lên bàn thờ gia tiên cũng thấy những đòn bánh tét tròn trịa, những đĩa bánh cộ bọc giấy ngũ sắc sắp lên trang nghiêm. Khay mứt nhà ai cũng bày đủ các món bánh, nào là bánh cộ, bánh khô, bánh lăn, nào là bánh thuẫn, bánh ít, bánh bột lọc… Toàn của nhà làm từ những nguyên liệu cây nhà lá vườn được người quê chắt chiu, vun vén từng li từng tí suốt một năm trời.
Thế rồi những ngày Tết qua mau, nhiều mùa Tết qua mau. Làng quê thay da đổi thịt và sự hiện đại lan dần thôn xóm. Bây giờ, người quê cũng giản lược cái Tết cổ truyền. Không mấy nhà còn phải lo tích trữ, gom góp thực phẩm như ông bà ngày xưa. Cũng không mấy nhà còn đỏ bếp lửa củi ngồi canh nồi bánh tét đêm ba mươi. Mọi thứ đủ đầy ngoài chợ và trên mạng, chỉ cần một buổi mua sắm hoặc một cuộc gọi điện thoại là có tất cả những thứ cần. Không phải mất công sửa soạn, làm lụng chi cho vất vả. Đời sống khá lên, phong tục cũng đổi khác, dường như chỉ có người đã từng trải qua những cái Tết xưa là còn vương vất niềm bâng khuâng lưu luyến.
Năm ngoái, chiều hăm chín Tết tôi về nhà ông bà ngoại, thấy ở góc sân nồi bánh tét sôi lục bục trong tiếng củi lửa lách tách. Còn bên bậc thềm, cậu tôi và các anh chị con cậu đang bày soạn đóng bánh khô, bánh cộ. Tết như Tết những ngày xửa ngày xưa. Tôi ngạc nhiên quá, vì ông bà đã mất từ lâu. Các con, các cháu của ông bà cũng lớn lên, rời xa căn nhà nhiều kỷ niệm, bận rộn lo toan cuộc sống. Thế nên cũng phải hơn hai mươi năm rồi, tôi không còn thấy cảnh cả nhà quây quần cùng nhau gói bánh tét, đóng bánh khô, bánh cộ nữa. Cậu tôi bảo: “Cậu tự làm những loại bánh ấy để ôn lại Tết xưa như lúc còn ông bà. Lúc ấy các con vẫn còn bé tí, vẫn lăng xăng tíu tít ở nhà…”.
Những ngày cuối năm, thời khắc chạm dần sang một cái Tết mới, lòng người thường bâng khuâng ngoái lại Tết cũ. Bởi ở đấy đã vĩnh viễn lưu giữ những hình ảnh thân thương nhất của những người thân yêu cùng với một tuổi thơ làng quê nghèo khó mà đầm ấm. Mỗi thời mỗi khác, biết vậy nhưng tôi vẫn nghĩ, chẳng Tết nào ấm cúng và bản sắc hơn Tết quê xưa.
H.N
