Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Bài thơ "Vườn Mẹ mai vàng" của Nguyễn Hữu Quý

Hoàng Thụy Anh    05/09/2026    15
Thơ hay chạm tới bản thể con người và cảnh vật, được cấu trúc trong một thi pháp đa nghĩa; chưng cất những biểu tượng nghệ thuật riêng có, hàm chứa, dội vào người đọc những thăng trầm của cõi thân phận nhân gian. Bài thơ “Vườn mẹ mai vàng” của Nguyễn Hữu Quý xây dựng hình tượng người mẹ vừa mang những nét cụ thể, riêng biệt vừa mang tính khát quát; ngôn ngữ và hình ảnh dễ hiểu nhưng gây được ấn tượng, bởi nó chân thật, mang mùi dân dã. Vị thế của người con miền Trung xa quê vọng về nơi chôn nhau cắt rốn như đang xoáy vào ta một nỗi niềm trắc ẩn.

VƯỜN MẸ MAI VÀNG

NGUYỄN HỮU QUÝ

 

Ngấn lũ mùa thu

in trong ký ức

con đi xa, thương mẹ vô chừng!

 

Những cánh đồng van vát miền Trung

neo vào Trường Sơn để không trôi ra biển

như chúng con

neo vào mẹ để còn xứ sở!

 

Mẹ tần tảo trong miền Trung chìm nổi

áo nối tay, gieo vớt những mùa màng

giọt mồ hôi rơi xèo đất hạn

củ sắn, củ khoai vùi bão ngọt bùi.

 

Hạt thóc chín vàng đọng bao nhiêu nỗi

mẹ ơi, nỗi nào không đắng đót núi sông

núi miền Trung dốc, sông miền Trung ngắn

mẹ miền Trung trĩu gánh gập ghềnh.

 

Tết con về quê, vườn mẹ mai vàng

như hương sắc cả năm dồn tụ lại

miền khắc bạc mùa xuân chừng ngắn ngủi

vẫn dâng đầy thơm thảo một miền Trung!

 

Nói đến mùa thu, nghe dịu dàng mát mẻ, ẩn chứa bao vẻ đẹp của thiên nhiên ban tặng. Nhưng, mùa thu miền Trung, mùa của giông bão. Bao nỗi xót xa, quặn thắt, thương mẹ còng lưng chạy đua với ngấn lũ dội về, ăn sâu trong tiềm thức của nhà thơ: Ngấn lũ mùa thu/ in trong ký ức/ con đi xa, thương mẹ vô chừng!. Ngấn lũ dâng cao, nỗi đau, tình thương của nhà thơ càng lớn, mãnh liệt. Bão tố, lũ lụt miền Trung cũng chính là giông tố trong lòng thi nhân. Nơi tha phương, lòng nhà thơ rưng rức, quặn thắt không yên, ào ạt theo từng đợt lũ tràn về.

Nhà văn Hoàng Thụy Anh: Xin chào nhà thơ Nguyễn Hữu Quý. Trước hết xin cảm ơn anh đã dành thời gian tham gia chương trình. Vườn Mẹ Mai Vàng là một bài thơ để lại nhiều dư âm trong lòng bạn đọc. Bởi hình tượng người mẹ miền trung và những lớp ý nghĩa nhớ về cội nguồn sức sống. Đọc bài thơ, chúng tôi có rất nhiều điều muốn được nghe anh chia sẻ về quá trình hình thành, cũng như là những suy tư phía sau từng câu chữ. Trong bài thơ, hình ảnh người mẹ hiện lên như điểm tựa của gia đình, và cũng là điểm tựa của cả một miền đất. Điều gì trong ký ức hoặc trải nghiệm của anh đã thôi thúc anh viết nên Vườn Mẹ Mai Vàng? và bài thơ được khởi nguồn từ chính người mẹ của anh, hay là sự kết tinh từ hình ảnh của nhiều người Mẹ miền Trung mà anh từng gặp, từng gắn bó?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Thưa các bạn, trong những bài thơ sáng tác của tôi, thì bài Vườn Mẹ Mai Vàng luôn chiếm trong tôi một tình cảm thương mến không thể nói hết. Mở đầu bài thơ này tôi đã viết là: Ngấn lũ mùa thu in trong kỷ ức/ con đi xa thương mẹ vô chừng. Hình ảnh của người mẹ đi suốt trong bài thơ Vườn Mẹ Mai Vàng của tôi.

Có người hỏi tôi rằng, hình ảnh người mẹ trong bài thơ này có phải là khởi nguồn cảm xúc, khởi nguồn hình tượng, khởi nguồn nội dung của bài thơ này hay không? Tôi xin nói rõ rằng, hình tượng người mẹ trong bài thơ là kết tinh. Đấy là sự kết tinh từ hình ảnh của những người mẹ miền Trung, trong đó có người mẹ thân yêu của tôi. Những người mẹ đã chịu rất nhiều gian khó, rất nhiều gian lao, rất nhiều thử thách. Ngay trên mảnh đất miền trung khắc bạc của mình, một mảnh đất có núi sông gập ghềnh, và con người chịu đựng rất nhiều gian lao, nhưng vẫn sáng lên hình ảnh của người mẹ. Những người mẹ chịu thương, chịu khó, những người mẹ can trường, những người mẹ trữ tình. Tôi nghĩ rằng ai sinh ra ở trên miền trung này, những người con của miền Trung luôn luôn nhớ về những người mẹ của mình. Cho nên hình tượng người mẹ trong bài thơ Vườn Mẹ mai vàng của tôi là sự kết tinh, là sự kết tinh của những người mẹ miền Trung, trong đó có người mẹ của tôi.

Địa hình miền Trung hẹp theo bề ngang, mặt giáp với biển Đông, lưng tựa vào Trường Sơn để đứng vững, chống chọi, duy trì nguồn sống: Những cánh đồng van vát miền Trung/ neo vào Trường Sơn để không trôi ra biển/ như chúng con/ neo vào mẹ để còn xứ sở!. Miền Trung neo vào Trường Sơn như cách chúng con neo/dựa vào cuộc đời mẹ. Biết bao lần mẹ ngụp lặn, tần tảo, dãi dầu mưa nắng, từng giọt mồ hôi mặn mòi trào sôi bỏng rát nắng xối, manh áo mỏng manh chắp vá... cho đất nở hoa, “gieo vớt những mùa màng”, làm nên vị “ngọt bùi” rất riêng của vùng rốn lũ có một không hai này: Mẹ tần tảo trong miền Trung chìm nổi/ áo nối tay, gieo vớt những mùa màng/ giọt mồ hôi rơi xèo đất hạn/ củ sắn, củ khoai vùi bão ngọt bùi. Hai từ  “gieo” và “vớt” đã lột tả cả một quá trình cực khổ, lam lũ của mẹ. Nếu động từ “gieo” chứa đựng trong nó niềm tin, hi vọng về một mùa bội thu thì động từ “vớt” lại đong đầy nỗi niềm đắng đót, nhức nhối, tái tê. Bóng dáng mẹ vớt vát, nhặt nhạnh, tìm những gì còn sót lại của mùa màng sau bão lũ mà lòng nghe sao nhói buốt.

Nhà văn Hoàng Thụy Anh: Tôi đặc biệt ấn tượng với những câu thơ: Những cánh đồng van vát miền Trung/ neo vào Trường Sơn để không trôi ra biển/ như chúng con/ neo vào mẹ để còn xứ sở! Hình tượng neo xuất hiện như một trục ý tưởng xuyên suốt bài thơ. Với anh, đó chỉ là một sán tạo nghệ thuật, hay còn là gửi gắm một quan niệm về cội nguồn, về sức bền và khả năng đứng vững của con người miền Trung trước bao biến động của thiên nhiên và cuộc sống hay không?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Trong bài thơ này thì có một khổ thơ. Được nhiều bạn đọc nhắc đến. Và bản thân tôi cũng rất thích cái khổ thơ này. Đấy là cái khổ thơ: Những cánh đồng van vát miền Trung/ neo vào Trường Sơn để không trôi ra biển/ như chúng con/ neo vào mẹ để còn xứ sở!

Cái chữ neo này nó như một trục xuyên suốt cả bài thơ. Chữ neo này nói về sự gắn bó bền bỉ của chúng tôi, của những người con miền Trung. Đấy cũng là với mảnh đất mình sinh ra, lớn lên. Với mảnh đất hẹp nhất đất nước, mà khi đi xa luôn luôn hướng vọng về, yêu thương, và trân trọng suốt cả cuộc đời của mình. Đấy cũng là quan niệm về xứ sở cội nguồn, của con người miền Trung. Trước những biến động dữ dội của thời cuộc, nào là chiến tranh, là thiên tai, là những xung đột, là những biến thiên của nhân tình thế thái. Nhưng lòng người miền Trung, sự thủy chung của người miền Trung đối với quê hương xứ sở của mình vẫn bền vững, nó vẫn giữ mãi như thế.

Thương mẹ bao nhiêu, nỗi lo lắng, day dứt, bứt rứt càng sâu đậm, ám ảnh khôn nguôi trong lòng nhà thơ bấy nhiêu. Cho nên, nhà thơ đã nhìn thấy trong hạt thóc căng mẩy vàng óng là hình bóng liêu xiêu, vất vả, cơ cực của mẹ vì cuộc sống mưu sinh, vì con cái, quê hương. Nỗi niềm xót đắng đó giăng bủa khắp núi sông, khắc hoạ hình bóng mẹ thành bức phù điêu vô giá: Hạt thóc chín vàng đọng bao nhiêu nỗi/ mẹ ơi, nỗi nào không đắng đót núi sông/ núi miền Trung dốc, sông miền Trung ngắn/ mẹ miền Trung trĩu gánh gập ghềnh. Miền Trung được ví như “đôi lưng trần”, “chiếc đòn gánh trĩu nặng” gánh đôi thúng lớn Nam Bắc, là cái eo thiếu nữ “thắt đáy lưng ong”, là “lão nông khòm lưng” gánh nặng nhiều trận mưa bão, khô hạn, lũ chồng lũ, sẵn sàng cuốn trôi, nuốt chửng mọi thứ.

Cùng cảm hứng đó, nhưng Nguyễn Hữu Quý lại rất riêng, tinh tế khi ví miền Trung như bóng dáng của mẹ: “mẹ miền Trung trĩu gánh gập ghềnh”. Từ một người mẹ cụ thể, mẹ của mình, Nguyễn Hữu Quý đã khái quát hình tượng mẹ, nâng lên thành “mẹ miền Trung” với đòn gánh cong cong trĩu nặng màu nâu rám của đất đai, ruộng đồng, quê hương. Nỗi vất vả, gian khổ, tần tảo, giản dị, đôn hậu của mẹ cũng chính là vẻ đẹp của con người miền Trung. Lồng nhập hình ảnh mẹ trong hình ảnh quê hương miền Trung, Nguyễn Hữu Quý đã gửi gắm tất thảy tình yêu thương của mình dành cho mẹ, cho dải đất “trĩu gánh gập ghềnh” và hơn cả, nhà thơ đã bất tử, vĩnh cửu hình tượng mẹ miền Trung, khắc sâu vào trái tim của người dân Lạc Hồng. 

Vùng đất “khắc bạc” “nắng nẻ mưa nguồn” níu chặt lấy vùng đất và con người nơi đây, vì vậy, cái đói nghèo, vất vả, cơ cực cứ thể đeo bám, đè nặng, nhưng không thể nào đánh gục được ý chí kiên cường, vượt khó của họ. Ai từng sống ở miền Trung mới hiểu con người miền Trung. Thiên nhiên khắc nghiệt đã đúc nên bản tính chịu đựng, trực diện, ngay thẳng như gió và cát, đất và nước vậy. Một năm lam lũ, bươn chải, đánh đổi biết bao mất mát, nước mắt để “đất hạn” nảy lên những mầm xanh sự sống khi tết đến, xuân về: Tết con về quê, vườn mẹ mai vàng/ như hương sắc cả năm dồn tụ lại/ miền khắc bạc mùa xuân chừng ngắn ngủi/ vẫn dâng đầy thơm thảo một miền Trung!. Khu vườn ngấn lũ của mẹ nay đang khoác lên mình một chiếc áo mới, thắm tươi sắc hoa. Dẫu “mùa xuân chừng ngắn ngủi” nhưng cũng đủ làm nên một không gian rực rỡ, rộn ràng, ấm cúng, hạnh phúc, “vẫn dâng đầy thơm thảo một miền Trung!”, tự hào hoà chung không khí hân hoan, phấn khởi đón xuân mới của cả nước.

Nhà văn Hoàng Thụy Anh: Bài thơ khép lại bằng hình ảnh vườn mẹ mai vàng, gợi cho ta một cảm giác ấm áp và hy vọng sau rất nhiều nhọc nhằn. Vậy thì khi sáng tác, anh có chủ ý để bài thơ không dừng lại ở những mất mát, gian khó mà còn hướng người đọc đến vẻ đẹp của sự bền bỉ và niềm tin hay không? Theo anh, thơ viết về quê hương hôm nay, cần làm gì để vừa trung thực với hiện thực, vừa khơi dậy trong lòng người đọc, niềm hy vọng và tình yêu đối với mảnh đất mình đang sống?

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý: Với mảnh đất miền Trung này, thì cái tình nghĩa, yêu thương, chất chung thủy của con người miền Trung, cái tinh thần vượt khó vươn lên, vươn lên trong khó khăn, vươn lên trong chiến tranh, trong thiên tai để dựng xây một cuộc sống mới. Cái chất con người miền Trung là như thế, hết sức can trường, vững vàng và lạc quan. Tôi cứ nhớ mãi hai câu ca giao ở miền Trung, mà chắc chắn rất nhiều người nhớ đến: Đừng than phận khó ai ơi/ Còn da lông mọc , còn chồi nảy cây. Đất miền Trung như thế, con người miền Trung như thế, cho nên lòng lạc quan đối với người miền Trung không bao giờ mất. Và chính đấy, thắp sáng lên cuộc sống còn nhiều gian khổ, lam lũ, nhưng người miền Trung vẫn vượt lên, vượt lên tất cả để hướng về tương lai. 

Cũng giống như trong khổ kết của bài thơ này, tôi đã viết rằng: Tết con về quê, vườn mẹ mai vàng/ như hương sắc cả năm dồn tụ lại/ miền khắc bạc mùa xuân chừng ngắn ngủi/ vẫn dâng đầy thơm thảo một miền Trung!. Mùa xuân ở miền Trung ngắn ngủi, bởi vì chưa hết mùa xuân theo cái điệu thời gian thông thường thì nắng đã lên, gió lào đã thổi. Và người ta nghĩ rằng miền Trung chỉ có hai mùa, mùa khô và mùa mưa. Nhưng cái mùa xuân ngắn ngủi ấy, những bông mai vàng nở ra thời gian không dài, cũng đủ sức mạnh, đủ thương sắc để lan tỏa trong suốt cả một năm dài, trong suốt chặng đường dằng dặc của miền Trung. Và đấy chính là cái lòng thơm thảo của mảnh đất và con người miền Trung.

Đọc “Vườn mẹ mai vàng” dung dị, chân thật như đang xem một bức tranh hiện thực mà sắc nét, để ta thêm tự hào về đất và người miền Trung cũng như thấu tỏ tấm lòng của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý trước mẹ, trước khúc ruột quê mình. Tết đến xuân về, âu đó cũng là tấm lòng thơm thảo mà nhà thơ dâng trọn cho “mẹ miền Trung”.

H.T.A