Giới thiệu
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác
Nghệ thuật
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia
Zalo

Những cõi người lạc lối trong tiểu thuyết Huỳnh Trọng Khang*

LÊ THỊ HƯỜNG    17/08/2026    33
Ở Việt Nam, một số nhà văn đã lựa chọn lối viết mê cung với kĩ thuật phân mảnh, chồng lấn những câu chuyện được trần thuật từ nhiều điểm nhìn. Bể trăng côi là tiểu thuyết tiêu biểu cho lối viết mê cung của Huỳnh Trọng Khang. Tác phẩm có cấu trúc song tuyến, một kể về hành trình tìm đạo, tìm đến núi Sa Mạo của một chú tiểu trong những ngày tháng dịch bệnh; một kể về hành trình thỉnh kinh, kiếm tìm chân lý của sư Huyền Trang với những kiếp nạn thử thách sự kiên trì và lòng từ bi. Thông qua những mê cung không gian, biểu tượng, triết lý và huyền nhiệm tôn giáo, Huỳnh Trọng Khang đã chạm đến những vấn đề lớn của nhân loại khi tập trung làm rõ khát vọng truy tìm bản thể, thân phận con người trước những thử thách khủng khiếp vì ốm đau, dịch bệnh.

 

Xem văn bản là một cấu trúc đa tầng nghĩa, bất định, nơi người đọc được tự do du hành giữa các lớp nghĩa, không còn bị dẫn dắt bởi tác giả; khi tác giả đã chết và văn bản chỉ là một tập hợp các kí hiệu mở…, các nhà lí thuyết hiện đại như Roland Barthes, Michel Foucault, Umberto Eco, trực tiếp hay gián tiếp, đều khẳng định tính chất mê cung của văn học hiện đại, hậu hiện đại. Các tác phẩm có tính chất mê cung thường có cấu trúc trần thuật phức tạp, nhằm mô tả những tình huống hoặc hành trình bí ẩn, nhiều thử thách, gắn với sự mất phương hướng và nhu cầu vượt thoát khi con người lạc trôi trong cõi người.

Ở Việt Nam, một số nhà văn đã lựa chọn lối viết mê cung với kĩ thuật phân mảnh, chồng lấn những câu chuyện được trần thuật từ nhiều điểm nhìn. Bể trăng côi là tiểu thuyết tiêu biểu cho lối viết mê cung của Huỳnh Trọng Khang. Tác phẩm có cấu trúc song tuyến, một kể về hành trình tìm đạo, tìm đến núi Sa Mạo của một chú tiểu trong những ngày tháng dịch bệnh; một kể về hành trình thỉnh kinh, kiếm tìm chân lý của sư Huyền Trang với những kiếp nạn thử thách sự kiên trì và lòng từ bi. Thông qua những mê cung không gian, biểu tượng, triết lý và huyền nhiệm tôn giáo, Huỳnh Trọng Khang đã chạm đến những vấn đề lớn của nhân loại khi tập trung làm rõ khát vọng truy tìm bản thể, thân phận con người trước những thử thách khủng khiếp vì ốm đau, dịch bệnh.

Lạc trôi và phi lí phận người

Bể trăng côi viết về nạn dịch Covid được soi chiếu từ ánh sáng Phật giáo. Câu chuyện về chú tiểu cõng nắm tro tàn của sư phụ miệt mài đi tìm núi Sa Mạo, vì nạn dịch nên phải tạm trú ở nhà một người không quen biết rồi thành một thành viên thân thiết của gia đình; câu chuyện về một gia đình trong nạn Covid; câu chuyện về Đường Tăng đi thỉnh kinh ở ngàn năm trước (được biên soạn lại) có lúc song hành, có lúc đan lồng vào nhau, rối rắm như một sự thử thách việc đọc.

Con người bị truy đuổi, con người tự truy bức chính mình là một chủ đề lớn trong hầu hết tác phẩm của Huỳnh Trọng Khang. Bể trăng côi là hành trình đi tìm ý nghĩa của sự tồn tại trong một thế giới phi lí. Đó là hành trình không có lối ra, quẩn quanh trong một vòng tròn, một nơi chốn không-có-nơi-chốn, nhân vật lạc lối trong những mê lộ, trong giấc mơ, trong kí ức cá nhân và lịch sử. Cả cuộc đời tu hành của vị sư phụ trong thảo am nơi sơn cùng thủy tận cuối cùng chỉ còn lại nắm tro trên lưng chú tiểu chật vật đi tìm nơi siêu thoát. Chú tiểu đi tìm Sa Mạo, tìm chốn Niết-bàn cho sư phụ nhưng càng đi càng lạc lối, càng đi càng đối mặt với cái chết. Chuyến đi tìm Sa Mạo của chú tiểu là hành trình đi tìm bản thể của một vị sư nhỏ luôn được giáo huấn về phi ngã. Rốt cuộc chú tiểu cũng không biết mình là ai, mình đi đâu, mình đến đâu? Từ chùa xuống phố, trú nhờ tại một gia đình phức tạp nhưng tốt bụng, lần đầu tiên chú cần giấy tờ tùy thân. Và “lòng chú trở buồn, băn khoăn về sự hiện hữu của mình trên thế gian. Hình dong này, tuổi tác này, kí ức này, còn không đủ sức nặng bằng một miếng nhựa (chứng minh thư), cuộc đời của một con người hóa ra thiếu trọng lượng đến vậy”. Khi chú tiểu băn khoăn đầy triết lý như thế thì hơn ngàn năm trước, “Huyền Trang cũng nhận ra điều đó” trong khoảnh khắc ông đứng trước cổng thành Hanumanta và đưa giấy thông hành cho lính gác, “họ lật ngược, lật xuôi như hai kẻ không biết chữ”. Đồng hiện thời gian khiến kí ức lịch sử xích lại gần nhau và cái phi lí phận người càng được nhấn mạnh. Nhân vật quanh quẩn trong cái hiện tồn vô nghĩa. Nghìn năm trước, giữa kinh thành Hanumanta, Huyền Trang như lạc vào một mê hồn trận. Đường phố đông đúc. Bức tượng mình người đầu khỉ sơn màu sắc sặc sỡ. Đám đông hò hét. Những làn sóng người xô đến, truy đuổi ráo riết Đường Tăng. Thoát khỏi hàng loạt mê cung trên đường thỉnh kinh, Đường Tăng đã hoàn thành nhiệm vụ của mình. Còn chú tiểu (13 thế kỉ sau), mắc kẹt trong trận dịch kinh hoàng, và đích đến vẫn mơ hồ phía trước. Sa Mạo vẫn vẫy gọi, chú cứ đi, cứ đi dẫu chẳng biết mình có đến được nơi sư phụ mong mỏi. Hư cấu, nhại lại Tây du kí về câu chuyện Huyền Trang đi thỉnh kinh, Huỳnh Trọng Khang đặt ra vấn đề về con người thời đại. Họ cô độc, hoài nghi, mất phương hướng trên hành trình tìm bản ngã. “Ta là ai trong cơn bão tuyết này. Ta là ai, thật cô độc”; “Sa Mạo... Đó là đích đến của thầy, là niết bàn của sư phụ, còn niết bàn của chú ở đâu? Còn đích của chú? Đến Sa Mạo rồi chú có được rời đi không? Hay nói đúng hơn, chú có định rời đi? Và đi đâu?”. Lời tự vấn của Huyền Trang trong quá khứ ngàn năm trước cùng những câu hỏi hoài nghi về sự hiện hữu con người của chú tiểu ngàn năm sau cho thấy hành trình truy tìm bản thể luôn là vấn đề chung trong văn học toàn cầu.

Bể trăng côi là câu chuyện về đạo và đời đan xen những triết lí về sống chết. “Sinh như trước sam, Tử như thoát khố, Tự cổ cập kim, Cánh vô dị lộ” (Lời cuối của sư phụ trước lúc viên tịch: - “Ta để lại cho con bài kệ sinh tử của Vô Nhị Thượng Nhân... Từ xưa đến nay, không có đường nào khác, sống chỉ như mặc áo, chết cũng tợ cởi quần. Cởi quần mặc áo là chuyện bình thường ở đời, đừng lấy đó mà đau khổ”). Từ cái nhìn của đạo, nhà văn viết về sống chết của đời nhẹ như không. Nhà sư trẻ trên con đường hòa nhập với đời (một cách bất đắc dĩ) luôn loay hoay với những ý nghĩ về sống chết. Cái chết trong hiện tại dịch Covid đồng hiện với nạn dịch trong quá khứ cách mấy ngàn năm. Trong quá khứ là những thành phố chết. Môi trường sinh thái ô nhiễm nặng nề. Cái chết của vua với những vết lở lói trên thân hình được điểm trang để che đi. Cái chết của người lính trong đội kỵ binh của hoàng đế, đau đớn, sung huyết, các thầy thuốc bó tay không tìm ra căn bệnh. “Những cái chết đầy lên theo cấp số nhân, những chiếc quan tài đóng vội, lò thiêu hoạt động hết công suất. Có khi cả một phường vải không còn lấy một mống người”. Trong hiện tại, cái chết rình rập từng ngõ phố, mỗi căn nhà. Trận dịch kinh hoàng khiến con người trở nên mỏng manh, bé nhỏ. Không khí tang tóc. Vắng, rỗng, cái chết. Thành phố trở nên trống rỗng nhưng con người chẳng biết đi lối nào. Chỉ còn “một trái đất đang thở nặng nhọc”, “chưa bao giờ chú nghĩ, thở thôi cùng khó khăn đến vậy” và bao trùm là “không khí u uẩn của sự đợi chờ”. Những cuộc đời vô danh và cái chết cũng vô danh. “Người mới mất không rõ là nam hay nữ, già hay trẻ, quấn trong túi. Người ta xịt thuốc khử trùng, không phải hương hoa mà là sát khuẩn, cái chết có mùi sát khuẩn. Còn tiếng kinh, tiếng kinh đêm chưa bao giờ dứt”. Đại dịch Covid càn quét, cả cuộc đời con người chỉ còn là “một chiếc túi đen bất động, đáng sợ”.

Mê cung trong tiểu thuyết Huỳnh Trọng Khang biểu hiện sâu sắc những bế tắc, hỗn loạn của con người trong đại dịch kinh hoàng với những phi lí, cộng với cái phi lí của việc chú tiểu chật vật trên con đường tìm Sa Mạo. Trong cái ngột ngạt chết chóc đó, nhân vật của Huỳnh Trọng Khang hành động một cách vô nghĩa lí. Người bà vẫn đều đặn hàng ngày đẩy chiếc xe bán thức ăn trống không ra ngõ, dù không có gì để bán; sáng đẩy xe đi, trưa đẩy về, như “con kiến cần mẫn đang cố lăn hạt gạo”. Người cha làm quản đốc, trong dịch nên thất nghiệp, ngày nào cũng xách xe ra đường rồi lại xách xe trở về; hết đi tới đi lui trong căn phòng chật chội, ông đi thành vòng tròn, ông đi vòng thứ bảy mươi bảy thì đụng phải bà nội mở cửa bước vào. Những vòng xoay, những vòng đời cuối cùng cũng khép lại, như “khép lại vòng tròn”. Biểu tượng vòng tròn được nhà văn xây dựng nhiều lần mang ý nghĩa về hiện tồn vô nghĩa, tượng trưng cho luẩn quẩn kiếp người.

Thế giới qua những tấm gương và những giấc mơ mịt mù

Hiện thực trong tiểu thuyết là hiện thực được mê cung hóa. Thế giới tiểu thuyết là thế giới của những địa danh mơ hồ, những con đường hun hút, những giấc mơ mịt mù. Hiện thực trong tiểu thuyết Bể trăng côi được miêu tả qua hai nhân vật chính, chú tiểu trên hành trình đưa thầy đến Sa Mạo và bị kẹt vì đại dịch, và sư Huyền Trang trên hành trình thỉnh kinh để hiểu được chân lý. Quá khứ của mấy ngàn năm và hiện tại kinh hoàng của trận dịch Covid đồng hiện. Điểm nhìn của Huyền Trang nghìn năm trước và điểm nhìn của chú tiểu nghìn năm sau chồng lấn, có lúc khó phân biệt đâu là hành trình thỉnh kinh của Huyền Trang (trong huyền thoại) và đâu là hành trình tìm Sa Mạo của chú tiểu (trong thực tại trận dịch Covid dữ dội). Sư phụ thật và sư phụ chỉ còn là nhúm tro trên lưng của chú tiểu có lúc mờ nhòe do sự chồng lấn điểm nhìn; hành trình thỉnh kinh đầy thử thách của Huyền Trang và hành trình gian khổ đi tìm Sa Mạo của chú tiểu có lúc xen lẫn vào nhau. Những tâm trạng rối bời, những suy nghĩ không liền mạch, rối rắm. Trong hoàn cảnh lạc lối của chú tiểu lạc bước vào đời, cuộc sống được nhìn từ những tấm gương. “TV như tấm gương, chiếu lại cái đời sống tách biệt ngoài kia”, “trên đó những con số to tướng báo số người chết vì dịch... Màn hình lại chuyển sang bàn tròn, bốn chuyên gia thay nhau nói, nói một hồi thành cãi lộn”; cũng như tấm màn hình điện thoại chỉ để tra bản đồ, “Google đi. Có hết. Cứ theo hướng dẫn, con sẽ tìm ra Sa Mạo sơn thôi”.

Không gian hiện thực được mê cung hóa. “Những con hẻm cứ liên tục rẽ nhánh, hẹp, hẹp mãi, và mỗi nhà như một chiếc lá, một quả dại héo hắt và con người giống như con sâu cái kiến cứ lẩn thẩn, quanh quẩn trên những cành nhánh, đục khoét, ra vào quả, ăn mòn lá”; “Những ngôi nhà giăng dây sáng sớm hàng xóm đứng trước những ngôi nhà giăng dây. Họ đã bị đưa đi đâu, liệu họ có trở về không? Những ngôi nhà giăng dây. Những ngôi nhà chủ nhân không trở lại”; “Đầu và cuối. Một vòng tròn. Đầu và cuối. Người ta đã dựng hàng rào”. Đời người như một vòng tròn. “Xoay tròn, xoay tròn như đèn kéo quân. Già, lớn, trẻ. Rồi trẻ, lớn, già. Cứ thế. Cứ thế”. Ngột ngạt. Tù túng như không thể khác. Căn nhà chứa mấy thế hệ trong gia đình “như một cái túi không đáy, có khi trông như một “lỗ đen vũ trụ”. Mấy thế hệ tồn tại trong một không gian ở đó đồ vật phình ra, con người lạc lối trong chính mình. Kể cả khi tiểu sư phụ tìm lên nóc nhà cho có chỗ nương thân thì ở đó cũng là một không gian trống rỗng. Tồn tại phi lí hay cái chết phi lí? Chính sự mắc kẹt trong cõi đời ngột ngạt này khiến con người bộc lộ hết bản chất của mình.

Những địa danh mơ hồ và những mê lộ hun hút

Sa Mạo là địa danh vang lên từ đầu đến cuối tác phẩm. Sự lặp lại một nơi chốn mơ hồ ẩn chứa quan niệm về cái vô tận, vô cùng, kể cả vô thường của thế giới này. Cõng sư phụ trên vai, theo lời dặn của sư phụ, chú đi tìm Sa Mạo sơn. Nhưng trên tấm biển điện tử báo giờ xe chạy, những địa danh nhấp nháy nối đuôi nhau, “không có chỗ nào ghi từ Sa Mạo”, google không có chỗ nào ghi từ Sa Mạo và trong cảm nhận của chú tiểu Sa Mạo như “một huyền thoại. Y như niết bàn”; “Nghe trong âm vang hai tiếng đó có gì không thực. Một địa danh thoát tục trong một thế giới siêu thực”, và giữa đời thực chú “sắp sửa ngồi lên chiếc xe đang dần rời bến đến một nơi gần như vô định”. Kể cả vị sư trụ trì khi dõi theo bóng lưng của chú “cũng không rõ Sa Mạo ở chốn nào”. Thực và không thực lẫn lộn tạo nên một không gian mơ hồ với những lối đi chằng chịt, ngang dọc rối mù. Hành trình đi tìm Sa Mạo của hai thầy trò (một chú tiểu 20 tuổi, một sư phụ trong nắm tro tàn) chính là một mê lộ, càng đi thì đích đến càng xa, càng đi lại càng xa rời bản thân mình, có lúc không biết lối ra - “Chú cứ đi và đi như thế”, “cứ ba bước chú lại quay đầu một lần để vẫy tay”. Hai tiếng Sa Mạo cứ nhói lên và những câu hỏi cứ vang lên, vọng về trong tâm tưởng, vọng lên từ những giấc mơ mịt mù.

Những giấc mơ lẫn lộn, lặp lại nhiều lần, không có đường ranh hư thực, quá khứ và hiện tại. Trong cơn đại dịch tàn khốc, dì Út mơ về sự sống; thằng bé mơ về đồi kẹo, khu vui chơi, “cưỡi ngựa và bay, bay khắp nơi...”. Kể cả con mèo cũng mơ về cánh bướm đậu trên chiếc mũi ướt. Bà nội ngủ cũng như thức và mơ về cái chết. Bà chờ đợi cái chết. Với bà, cuộc sống có lẽ đã chấm dứt từ lâu rồi. Kể cả Huyền Trang của mấy ngàn năm trước cũng từng có cơn mơ về sắc dục khi nhìn thấy “bức tranh họa một vị đang tọa liên hoa, hình dong tợ Bồ Tát, toàn thân phủ sắc xanh. Màu xanh kì dị. Phía trước vị Bồ Tát, một nữ nhân khỏa thân đang vòng tay quấn quanh ngài”. Những mê cung mơ thực ấy là biểu tượng của những ngăn trở, thử thách, những cám dỗ trên đường đi của Huyền Trang (và cả chú tiểu mấy ngàn năm sau). Huyền Trang mơ mình đang đứng trong một vườn đào sai hoa nặng trĩu, những cánh đào bay như cơn mưa rào mỗi lúc lại thêm dày đặc... Huyền Trang cảm nhận được sức nặng đang đè nặng trên bụng mình. Hoa vườn đào bay mãi. Đất vườn đào sụp xuống. Nhà sư trẻ rơi vào hố, đêm ụp xuống ông nhanh đến mức ông không biết mình còn kẹt ở giấc mơ hay đã bừng tỉnh nhưng mắt đã bị màn đêm phong ấn”. Cũng vậy, trong những giấc mơ của chú tiểu luôn lẫn lộn thực hư. Khao khát đi tìm Sa Mạo sơn, trong mơ, chú tiểu “thấy ngọn linh sơn sừng sững nhô ra giữa thinh không đượm màu hồng nhạt dường như đang chuyển động, cứ loang ra rồi tụ lại chậm chạp”. Hoặc chú mơ thấy mình chìm xuống đại dương và tan thành bọt biển. Giấc mơ về biển, về những loài cá, về đáy biển trơ trọi chỉ còn cát trắng và “bầu trời lấp lánh hàng ức triệu đôi mắt Bồ Tát đang hấp háy nhìn”.

Bể trăng côi là sản phẩm của một mê cung ngôn ngữ, nơi lời nói và ý nghĩ dẫn dắt nhân vật và người đọc vào những trùng phức mê lộ của đạo, của đời. Tác phẩm không đơn thuần là những chuyện kể mà chính là “mê cung của kí ức” với diễn ngôn mù mờ, đa nghĩa, với tính chất phân mảnh tự sự. Những lời vô ngôn. Trong sổ tay của sư phụ là vài từ rời rạc. “Khoanh tròn. Chấm hỏi. Chấm cảm. Gạch chân... Thi thoảng có thơ. Gạch xóa. Viết lại. Gạch xóa...”. Trong sổ tay chú tiểu là “mấy mẩu nói chuyện không đầu không cuối. Vài nét nguệch ngoạc chú vẽ chùa, vẽ cảnh trên núi. Chân dung sư phụ...”. Trên xe đi tìm Sa Mạo, “chú thấy ngôn ngữ vo ve trước mặt, từ vô hình thành hữu hình, những chấm li ti không ngừng lượn lờ. Đầu chú ong ong ngân vang tiếng mõ”. Đối thoại rời rạc. Lời thoại không ăn nhập đưa người đọc vào một thế giới phi lí. Sư phụ thật (lúc còn sống), sư phụ ảo (nắm tro tàn trên lưng chú tiểu) và chú tiểu luôn đối thoại với nhau một cách rời rạc, một kiểu “đối thoại mê lộ” thường thấy trong kịch phi lí phương Tây. Lẫn trong đối thoại là những chất vấn nội tâm. Lời người kể chuyện, lời nhân vật, lời người sống, lời người chết đan lẫn vào nhau, đôi lúc rối rắm; mọi thứ ngỡ như tách rời, lặp lại vô nghĩa nhưng ẩn bên trong là những vấn đề lớn của đời sống con người: dịch bệnh, sự hủy hoại môi trường; sự suy thoái lòng người, cái tốt, cái nhân văn cùng lúc được biểu hiện.

Viết về đại dịch Covid vẫn là một đề tài còn mới trong văn học Việt Nam. Chọn điểm nhìn qua nhân vật trung tâm là chú tiểu, vị sư trẻ đang hành đạo với nhiều hoài nghi về đích đến của mình, diễn ngôn mê cung đã làm nên một giọng riêng. Không đẩy câu chuyện lên mức hỗn độn, không làm nhòe thực ảo đến mức kì bí, tiểu thuyết của Huỳnh Trọng Khang không thuộc hiện thực huyền ảo. Bể trăng côi là một tiểu thuyết mang màu sắc hiện sinh. Ở đó, những trầm luân đời người, những loay hoay dấn thân, lựa chọn, những được mất sinh tử, những mê ngộ đạo đời…, tự nó đủ sức làm nên một cấu trúc trần thuật hợp lý. Loay hoay trong mê cung của hiện thực, của ảo giác, song chung cuộc, con người vẫn không mắc kẹt, bế tắc. Tử mà không diệt, lạc đường mà vẫn đến đích, với Bể trăng côi, Huỳnh Trọng Khang đã khẳng định được một bút pháp riêng trong việc tạo ra một diễn ngôn mê cung, nơi các mê lộ không phải luôn luôn là những lối đi không lối thoát.

                                                                                                                                              L.T.H

 

 

___________

* Huỳnh Trọng Khang là nhà văn trẻ, sinh năm 1994 tại Châu Đốc, An Giang, hiện sinh sống và làm việc tại TP Hồ Chí Minh.