☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Zalo

Rạng danh Đội Chiếu bóng Anh hùng

HỒ THANH THOAN    06/05/2026    374
Vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi đến giai đoạn cuối thì tại chiến khu Việt Bắc (Khu Đồi Cọ Bản Bắc, xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên), nơi căn cứ địa của đầu mối cách mạng đang hoạt động, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 147/SL thành lập Doanh nghiệp Quốc gia Chiếu bóng và Chụp ảnh Việt Nam vào ngày 15/3/1953.

Đó là đơn vị doanh nghiệp đầu tiên của ngành Văn hóa ra đời, đánh dấu một giai đoạn mới của nền Điện ảnh Cách mạng Việt Nam với nhiệm vụ chính là tuyên truyền, biểu dương và giáo dục nhân dân thông qua hai loại hình này. Với sự ra đời đó, nước ta đã có thêm một thành viên trong đội ngũ những người xây dựng nền văn hóa mới của đất nước.

Tại thủ đô Hà Nội, lúc đó các đơn vị Điện ảnh, các rạp chiếu phim đã ổn định. Vào đầu tháng 10 năm 1953, Bộ Văn hóa thành lập thêm một Đội chiếu bóng lưu động số 13 để phục vụ cán bộ và nhân dân từ Thanh Hóa đến Bình Trị Thiên. Chiến tranh lúc này đang diễn ra khốc liệt, Đội phải làm nhiệm vụ dưới mưa bom bão đạn của thực dân Pháp mà không quản ngại khó khăn, gian khổ. Ngoài công việc chiếu phim, đội còn làm công tác chính trị tư tưởng như: Vận động thanh niên tòng quân, đi dân công hỏa tuyến, tham gia công cuộc cải cách ruộng đất vùng nông thôn...

Hơn nửa năm sau, ở mặt trận Tây Bắc với chiến thắng Điện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954 đã kết liễu cuộc xâm lược của thực dân Pháp tại Việt Nam. Ngày 20/7/1954, Hiệp định Genève được ký kết, đất nước bị chia cắt làm đôi, tỉnh Quảng Trị cũng bị chia thành hai vùng khác nhau, sông Bến Hải, cầu Hiền Lương là điểm chốt giữa hai miền Nam Bắc. Đội đã được điều hẳn vào vùng giới tuyến Vĩnh Linh và phía Nam huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) để phục vụ cán bộ và nhân dân ở đó.

Đội chiếu bóng số 13 vượt Trường Sơn để về phục vụ Khu vực Vĩnh Linh - Ảnh: Hồ Thanh Thoan
Đội chiếu bóng số 13 vượt Trường Sơn để về phục vụ Khu vực Vĩnh Linh - Ảnh: Hồ Thanh Thoan

Năm 1956 đội chiếu bóng số 13 đặc trách hẳn tại khu vực Vĩnh Linh. Đến năm 1965, các đội chiếu bóng 165 và 281 đã lần lượt ra đời để tăng cường phục vụ bà con vùng đất lửa. Khi đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc nói chung và Vĩnh Linh nói riêng ngày càng ác liệt, thì chính những lúc đó các đội chiếu bóng thực sự là mũi nhọn, là những người lính xung kích trên mặt trận tuyên truyền văn hóa của Đảng.

Thời kỳ này, cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng giới tuyến ngoài việc đánh giặc, còn phải lao động sản xuất để có lương thực nuôi sống. Ban đêm chẳng làm lụng được gì, trong lúc không có hoạt động nào khác và khó nắm bắt được tình hình chung trong nước. Chỉ có phim và loa phóng thanh để tuyên truyền cho bà con biết được tin tức, thời sự. Chính vì vậy, cùng với những đơn vị chiếu bóng chủ lực trên, các đội tuyên truyền lưu động của lực lượng khác như: Khu đội Vĩnh Linh, Công an vũ trang, Bộ đội Biên phòng tiếp tục được hình thành để phục vụ đắc lực cho cán bộ và nhân dân vùng giới tuyến trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Những chiến sĩ của ngành Chiếu bóng không kể ngày đêm, mưa nắng, gian khổ, đã xông pha trên mọi trận tuyến, từ địa đạo, chiến hào, hầm hố trong đất liền đến giữa rừng xanh ngoài đảo Cồn Cỏ, từ các trận địa pháo đến vùng sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi... Các đội thay phiên nhau đưa phim đến phục vụ bà con rất tốt, động viên quân và dân hăng say đánh giặc để chiến thắng đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ vùng biển, vùng trời của Tổ quốc thân yêu.

Đội Chiếu bóng số 13 lúc này khá đông, khi mới thành lập được gọi là Đoàn, bởi con số có khoảng 50 người để làm cùng một lúc nhiều nhiệm vụ; không những chỉ vận chuyển máy móc, phục vụ chiếu phim mà còn nhiều việc khác như: Cập nhật, phổ biến thời sự trong nước để thông báo cho bà con giới tuyến, tuyên truyền các chế độ, chính sách, vận động thanh niên lên đường nhập ngũ, giúp dân khắc phục khó khăn trong cuộc chiến… Một thời gian sau, các thành viên của Đội ở miền Bắc dần được rút ra hoặc chuyển ngành đi nơi khác. Tổ chức đã kịp thời bổ sung nhân sự tại địa bàn khu vực Vĩnh Linh tiếp tục gánh vác công việc. Danh sách thành viên của Đội bây giờ không thể thống kê đầy đủ.

Hiện nay có năm cụ ông của Đội 13 là người Quảng Trị đang còn sống: ông Phùng Thế Dưa ở TP. Hồ Chí Minh, ông Nguyễn Thánh Chước ở phường Nam Đông Hà, các ông Trần Đức Thọ và Cao Văn Đức ở xã Vĩnh Thủy, và ông Võ Xuân Trường ở xã Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Tất cả đều trên 80 tuổi nhưng vẫn đang minh mẫn, khỏe mạnh.

Theo lời kể của các vị lão thành: “Ký ức về một thời đạn bom, về đồng đội, về những ngày đêm gian khổ làm công tác chiếu phim phục vụ chiến sĩ đồng bào ở khu vực Vĩnh Linh ngày ấy vẫn mãi mãi tỏa sáng trong tâm hồn, ăn sâu vào tâm khảm. Với công việc miệt mài, không sợ hy sinh gian khó, miễn làm sao phục vụ tốt nhất cho cán bộ và nhân dân nơi vùng giới tuyến. Đó là liều thuốc thần giúp họ sống vui, sống khỏe, sống có ích xứng đáng với đồng đội đã chịu thương, chịu khó xa quê hương, gia đình để vào với mảnh đất đầy nắng gió, chiến tranh ác liệt này…”.

Chỉ tính riêng trong bốn năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ (1965 - 1968), nửa triệu tấn bom, đạn đã giội lên bảy vạn đầu dân Vĩnh Linh. Trong thời gian đó, Đội chiếu bóng 13 đã có một đồng chí hy sinh và năm đồng chí bị thương.

Đội chiếu bóng ngày đó trở thành “Đội thông tin tuyên truyền chiếu bóng”. Với những bộ phim tài liệu quý được phổ biến rộng rãi như: “Nguyễn Văn Trỗi”; “Chiến thắng Ấp Bắc”; “Chiến Thắng Đồng Xoài...”, cùng với những bản tin chiến thắng bắn rơi máy bay địch trên trận địa miền Bắc do Đội đem đến đã làm nức lòng khán giả, càng cổ vũ thêm phần trách nhiệm của anh em trong ngành. Khi giặc chuyển chiến thuật từ đánh ngày sang đánh cả ngày lẫn đêm thì Đội chiếu bóng phải nghĩ đến cách vừa hoạt động nhưng vừa đảm bảo được tính mạng người xem, bởi trong thời chiến phải tránh tập trung đông người, mà chiếu bóng thì ngược lại nên đó là vấn đề cần suy nghĩ.

Các anh lập ra phương án: ban ngày làm nhà căng tấm vải đen để chiếu lưu động, đặt rạp tạm dưới các khóm tre, có hào sâu phân bố cho từng nhóm người xem suốt ngày. Đội còn thực hiện màn ảnh phản quang đặt ở đường làng, mỗi lần xem được vài chục khán giả, cùng lúc phải làm tấm chắn sáng màn ảnh, bên bãi chiếu phải có hào giao thông. Tổ chức lực lượng phòng không, tự sáng tạo làm dây kéo tắt máy phát điện khi báo động có máy bay giặc đến. Khi bị máy bay Mỹ đánh bom bi, đại bác hoặc bom tọa độ thì lập tức phân công nhau về các xã vận động bà con làm hầm chiếu bóng kiên cố, các hầm lớn chiếu cho hàng trăm người xem kết hợp làm hội trường và nơi cứu thương của xã. Về sau rút xuống hầm chữ A, rồi xuống địa đạo chiếu cho vài chục người xem; thậm chí chỉ có 5 đến 7 khán giả là đạt yêu cầu.

Lúc bom đạn làm hư hỏng đường sá, anh em trong đội lại nảy ra sáng kiến cải tạo máy chiếu bằng đèn măng sông, thay nhau quay tay để tiện việc mang vác đi phục vụ các địa đạo và các đơn vị chiến đấu. Cứ thế, lúc giặc đánh thì quân và dân Vĩnh Linh vẫn có phim để xem đều đặn, suốt cuộc chiến tranh mà không một khán giả nào bị thương vong lúc xem phim.

Cụ Trương Phiếm trong bài viết Nhớ về Đội chiếu bóng Anh hùng in trong tập Chiếu bóng Quảng Trị - Dấu ấn thời gian của Trung tâm Phát hành Phim và Chiếu bóng Quảng Trị, xuất bản năm 2008 có viết: “… Ngày 02/9/1966, trong khi đang chiếu phim cho một đơn vị bộ đội cao xạ thì được lệnh của Thường vụ Đảng ủy gọi về phục vụ lễ Quốc khánh vào buổi tối tại xã Vĩnh Long, nơi văn phòng UBND khu vực đóng. Đoạn đường đi phải qua cầu Khe Cáy, đây chính là mục tiêu mà địch đã ném bom tọa độ suốt mấy ngày nay.

Anh em trong đội chưa nghĩ ra cách để đưa được máy và phim có trọng lượng nặng hơn 300kg vượt qua nơi đó. Nhờ nắm được quy luật, cứ

15 phút địch giội một loạt bom; thế là cơ hội đã đến. Anh em chuyển trang thiết bị tập kết cách cầu khoảng 150m, chờ địch ném xong từng loạt, mỗi người vác một hòm máy chạy vượt qua cách cầu vài trăm mét, ngồi chờ xong loạt thứ hai quay lại tiếp tục chuyến khác. Còn lại chiếc máy phát điện quá nặng, đành phải để cuối cùng trên xe ba gác cho bò kéo; phải lách qua từng hố bom chậm chạp nhưng cuối cùng cũng chuyển được tất cả an toàn về phục vụ kịp theo yêu cầu của lãnh đạo.

Chúng tôi mỗi người đều được cấp một khẩu súng trường, hợp thành tiểu đội tự vệ, lúc gặp máy bay giặc đến là chiến đấu như những chiến sĩ thực thụ. Nhưng vũ khí Điện ảnh của chúng tôi còn quan trọng hơn nhiều, anh em trong đội coi việc bảo vệ phim máy là nhiệm vụ hàng đầu. Chỉ tính từ 4 đến 5 lần chuyển nơi đóng quân, thì đội đã phải đào đắp hàng trăm mét khối giao thông hào, trong một đợt đi phục vụ chiến trường. Toàn đội bị địch vây ráp, lúc đó các cơ quan tỉnh đã rút hết, hai đồng chí Nguyễn Khâm và Nguyễn Đức Kỳ vẫn bám trụ để chuyển máy và phim ra gần suối làm hầm cất giấu cẩn thận xong mới rút lui…”

“… Có một lần chúng tôi chuyển địa điểm để chiếu phim phục vụ sinh nhật Bác Hồ, khi vừa mới đến cách cầu Thượng Lập (thuộc xã Vĩnh Long cũ) khoảng vài trăm mét thì hai chiếc máy bay địch lao tới. Thật là tai hại, đã nhiều lần đánh phá nhưng cầu vẫn nguyên vẹn; thế mà hôm nay sau một loạt bom, chúng đã làm sập tan hoang. Vừa dứt tiếng máy bay, cả năm anh em từ giao thông hào bò lên nhìn ra chiếc cầu đều ngao ngán vì lo lắng. Có thể không về kịp địa điểm thực hiện cho buổi chiếu tối nay. Một cuộc bàn bạc khẩn trương trong tổ với không khí cấp bách. Bây giờ còn một lối đi khác là cho xe ba gác dùng bò kéo qua thôn Sa Bắc, về hướng Phúc Lâm theo đường Nam Bộ để đến Hồ Xá đi ngược lên. Nghĩa là phải quay một vòng trên mười cây số mới đến được địa điểm phục vụ. Như thế thì tối mất, tôi quyết định vượt qua sông nhưng quá khó. Sông sâu, máy móc nặng nên cứ loay hoay mãi ở mố cầu, bởi vì nơi đây chính là trọng điểm bắn phá của địch.

Công việc của đội hôm nay là chiếu phim chào mừng sinh nhật Hồ Chủ tịch. Tôi động viên anh em phải khắc phục mọi khó khăn để vượt qua, vì thường ngày chúng ta vốn đã dạn dày với kinh nghiệm tránh bom đạn và lao động nặng nhọc nên chẳng quản ngại gian lao.

Vừa nói xong, đồng chí Trường và đồng chí Thưởng xung phong xuống sông trước và đã dò thấy một đoạn nước cạn, chỉ đến ngực nhưng phải lội qua một ruộng bùn sâu đến đầu gối hơn 100m. Không còn cách nào khác, cả đội đều cởi áo, xắn quần vác máy đi qua, may mắn là con sông không rộng nên tuy máy móc cồng kềnh nhưng lúc đưa lên cao để khỏi ướt chỉ trong vài phút là đã qua được, chỉ khó nhất là máy phát điện nặng 150 kg chưa biết làm cách nào. Đồng chí Trường đã có sáng kiến đưa hai xe ba gác chồng lên nhau rồi đặt máy lên vừa dùng dây và sức người cùng kéo qua.

Đúng lúc đó, một tốp máy bay gồm bốn chiếc tạt qua đầu, khi cả năm anh em đang hì hục chất máy lên xe ở mố cầu bên này. Không kịp tìm chỗ ẩn nấp, tất cả đều ngước nhìn thì chúng bay mất hút. Trong tổ nhìn nhau mừng cảnh thoát chết và tự nhiên đồng thanh cùng nhắc lại 2 câu thơ:

Súng của anh là máy

Đạn của anh là phim

Rồi chúng tôi vẫn tiếp tục công việc và thấy như được tiếp thêm sức mạnh để có động lực lên đường phục vụ.

Đêm hôm đó, chỉ trễ giờ theo yêu cầu của cấp trên khoảng 20 phút nhưng lúc xem phim đến cao trào, tiếng vỗ tay đồng loạt hả lòng, hả dạ của khán giả làm chúng tôi cảm thấy như mình vừa nhận được một phần thưởng cao quý của đồng bào đối với anh em phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị…”

“… Có một đêm lúc đang chiếu phim ngoài bãi, tiếng vỗ tay và tiếng bàn tán xôn xao át cả tiếng kẻng của tổ dân quân bố trí phòng không cẩn thận, lúc đó máy nổ chưa kịp tắt, cái bóng đèn tuy đã chắn sáng phía trên nhưng bãi chiếu vẫn còn sáng. Một tốp máy bay rà sát qua đầu bãi chiếu. Nhiều người nháo nhác chạy tạt ra bốn phía, chúng bay thấp và nhanh quá nên ngay cả đồng chí phụ trách điện thoại phòng không chẳng kịp kéo dây điện từ doanh trại ra bãi chiếu để phối hợp cũng không kịp báo động. Đồng chí xã đội trưởng phụ trách phòng không và buồng máy yêu cầu hoãn buổi chiếu nhưng trước sức ép của người xem, nhất là đám thanh niên và đại đội tân binh xin cứ tiếp tục nên công việc vẫn được thực hiện.

Tôi là người lo lắng không kém đồng chí xã đội trưởng, mặc dù tình hình chiếu phim gần đây cứ mỗi đêm phải báo động 5 - 7 lần, xảy ra thường xuyên và càng về sau càng nhiều hơn nữa. Hai tháng nay, ngoài việc che luồng sáng từ buồng máy ra màn ảnh, các bóng đèn cổng và bãi đều cho vào lon sữa bò, chỉ rọi một vòng nhỏ xuống đất, chúng tôi đã có sáng kiến buộc sợi dây dài 30m vào tay ga máy nổ, người sử dụng máy làm nhiệm vụ phòng không ở tuyến thứ ba, nếu có tiếng kẻng báo động thì dùng sợi dây kéo nhẹ là máy nổ sẽ tắt.

Trong buổi chiếu có nhiều lần báo động thì máy nổ liên tục ngắt quãng nhưng may mắn đều diễn ra trót lọt, cả đội lại thở phào coi như mình đã đánh thắng giặc Mỹ trên mặt trận văn hóa.

Hôm sau đội chuyển qua phục vụ địa điểm khác. Trên đường đi, chúng tôi mở gói quà của một gia đình từng cưu mang anh em trong đội đã chuẩn bị sẵn lúc tiễn chân để ăn nốt mấy quả trứng gà luộc, vừa ăn vừa bàn cách vượt qua trọng điểm. Trên trời, chiếc máy bay trinh sát cứ lượn lờ, dò xét. Như có một sự khả nghi, nếu chiếc OV10 bất ngờ phóng xuống một phát pháo hiệu là lập tức hàng trăm quả pháo từ ngoài biển, từ Dốc Miếu, Cồn Tiên hoặc hàng chục máy bay đến dội bom xối xả. Đồng chí Khâm, người vận hành máy chiếu vẫn để nguyên hộp đèn măng sông trên vai, ngồi thừ người hướng về thôn Vĩnh An quê anh, rất sốt ruột muốn về tối nay để được gặp mặt bà con, bạn bè đang ở lại chiến đấu nơi đó nhưng chẳng được.

Rồi tổ chúng tôi lại gùi máy lên lưng đi về hướng bãi biển. “Ở đâu có dân, có bộ đội là ở đó có chiếu bóng”. Khẩu hiệu đó đã nhiều tháng nay không thể thực hiện được đối với 2 xã Vĩnh Quang, Vĩnh Giang và 6 xã miền núi. Bởi vì ở những nơi đó không chỉ do chiến tranh ác liệt mà còn do bom đạn phá hết đường sá, xe ba gác bò kéo không tới được và cũng không thể huy động anh em dân công phụ giúp, do phải tập trung vào sản xuất và chiến đấu.


Đội chiếu bóng số 13 chuẩn bị lên thuyền ra phục vụ các chiến sĩ đảo Cồn Cỏ - Ảnh: Hồ Thanh Thoan
Đội chiếu bóng số 13 chuẩn bị lên thuyền ra phục vụ các chiến sĩ đảo Cồn Cỏ - Ảnh: Hồ Thanh Thoan

Nhờ sáng kiến cải tiến của anh em trong đội về hai bộ máy chiếu bằng đèn măng sông nên mới có điều kiện để đến được bất cứ nơi nào, nhất là phục vụ dưới địa đạo thuận tiện nhất, chỉ cần 3 người là gùi hết trên lưng đầy đủ, bởi tất cả phần điện đã được tháo gỡ hết, chỉ còn một đầu máy chiếu với hệ thống kéo phim, một chiếc đèn măng sông, một tấm vải làm màn ảnh và một máy thu thanh bán dẫn làm loa phát thanh thuyết minh.

Nhìn bờ biển Vĩnh Thạch trước kia cây cối xum xuê, um tùm thế mà bây giờ chỉ trơ lại cát trắng pha đất đỏ với những hố bom chi chít, anh em thấy cảnh vắng người rất buồn nhưng chẳng biết làm sao được.

Một chiếc OV10 lại lượn lờ quanh quẩn. Trong tổ đã phân công cụ thể, một người nằm lại cảnh giới cho hai anh em vượt tới nơi trú ẩn thuận lợi. Khi chiếc OV10 lượn về phía đồi đất đỏ, từng quãng chạy vụt qua cho đến lúc cả tổ đến được cửa địa đạo cũng là lúc pháo từ tàu Mỹ cấp tập bắn tới tấp. Đồng chí Chước là người đi sau cùng bị hơi nổ của quả pháo đẩy chúi dụi vào vách đất. Một tổ dân quân từ địa đạo ùa ra vui mừng và khuân vác giúp máy móc vào hội trường.

Sau buổi chiếu phục vụ bà con dưới địa đạo, đến lúc tiễn chân đội lên đường đi nơi khác, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Vĩnh Quang cảm động nói: Chúng tôi thật không ngờ trong tình hình này mà chiếu bóng các anh vẫn đến được tận đây để giúp đỡ bà con về mặt tinh thần, quả thật là một việc làm quý hóa nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nhất là những chiến sĩ văn hóa của chúng ta hôm nay…”

* * *

Đầu năm 1972, Quảng Trị được giải phóng, đến giữa năm, Ty Thông tin Văn hoá tỉnh được thành lập và từ đó Phòng Chiếu bóng của tỉnh cũng được ra đời, lúc này ban B tỉnh Quảng Bình đã điều một số cán bộ cùng ngành vào chung sức phục vụ cho đồng bào vùng mới giải phóng và chiến trường Quảng Trị. Đến tháng 10 năm 1972, ba đội chiếu bóng lần lượt được hình thành, trong đó Đội 13 được đổi tên thành Đội số 1. Nhiệm vụ của các đội là tuyên truyền chiếu phim với những nội dung hướng về miền Bắc xã hội chủ nghĩa, chủ trương đường lối của Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, cuộc đấu tranh của hai miền Nam Bắc chống đế quốc Mỹ xâm lược để cho đồng bào được hiểu biết nhiều hơn về nhiều phương diện.

Chiếu bóng Quảng Trị từ năm 1972 - 1975 luôn làm tròn trách nhiệm phục vụ chính trị của tỉnh, đã tuyên truyền cho nhân dân vùng mới giải phóng hiểu rõ giá trị đích thực của nền Điện ảnh Cách mạng Việt Nam mới ra đời được 20 năm trong giai đoạn chiến tranh ác liệt nhất.

Năm 1975, đất nước được hoàn toàn thống nhất, một thời gian lại có quyết định nhập tỉnh Bình Trị Thiên, Chiếu bóng Vĩnh Linh, Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế cũng được nhập lại để trở thành Công ty phát hành phim và chiếu bóng Bình Trị Thiên, trụ sở chính đóng tại thành phố Huế. Đội chiếu bóng số 1 vẫn được giữ nguyên với một số thành viên nòng cốt của đội số 13 để tiếp tục hoạt động. Thời gian này tỉnh quyết tâm xây dựng đơn vị là lá cờ đầu của ngành bằng nhiều hình thức: Từ năm 1978 trở đi, Đội đã cùng với các địa phương làm 15 bãi chiếu bóng cố định có màn ảnh rộng ở các xã, phường trên địa bàn mình hoạt động. Đội cũng bám sát nhiệm vụ chính trị để phổ biến đến khán giả qua phim ảnh, đồng thời trao đổi kinh nghiệm và nghiệp vụ với các đội bạn trong cũng như ngoài tỉnh, bám sát cấp ủy địa phương và Đoàn thanh niên cơ sở làm nòng cốt phục vụ tốt nhân dân, quần chúng. Tuyên truyền phổ biến các thể loại phim truyện, tài liệu, khoa học kỹ thuật và hoạt hình đến với các cấp học trong nhà trường. Sau đó, Đội liên tục nhận được cờ tổ đội Lao động XHCN trong 8 năm liền; Đội cũng đạt được nhiều hình thức khen thưởng của UBND tỉnh và Sở Thông tin Văn hóa. Công ty Điện ảnh Băng hình tỉnh tiếp tục xây dựng đội chiếu bóng số 1 luôn có 100% cán bộ viên chức hàng năm đều đạt lao động tiên tiến, có từ 1 đến 2 đồng chí đạt Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, đạt nhiều giải thưởng về các cuộc thi kể chuyện phim đối với học sinh trong tỉnh…

Năm 1982, Đội đã chọn cán bộ thuyết minh Lê Đức Kiệm làm báo cáo viên tuyên truyền phim về xây dựng phong trào cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh trong dịp tổng kết ngành Điện ảnh toàn quốc. Năm 1985, Đội chiếu bóng số 1 (tiền thân là Đội số 13) do có nhiều thành tích từ thời chiến tranh chống Mỹ và cả quá trình phấn đấu trong thời kỳ đổi mới nên đã vinh dự được Đảng và nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động năm 1985. Và đây cũng là đội duy nhất trong cả nước đạt được phần thưởng cao quý vào thời kỳ đó.

Từ khi có quyết định 333 của Bộ Văn hoá và Thông tin phân cấp chiếu bóng cho huyện quản lý, các công ty chiếu bóng Bến Hải, Triệu Hải, Đông Hà, Liên đội chiếu bóng Hướng Hóa được thành lập để phục vụ cán bộ và nhân dân trên địa bàn Quảng Trị về cả nhiệm vụ chính trị cũng như về mặt kinh doanh cho nhà nước.

Từ ngày 1 tháng 7 năm 1989, Bình Trị Thiên lại tách tỉnh. Quảng Trị được trở về với chính tên gọi của mình như cũ, Công ty Điện ảnh và Băng hình hoạt động dưới sự quản lý của ngành Văn hóa Thông tin. Được sự quan tâm của trung ương, của tỉnh, các ban ngành và trực tiếp là đơn vị chủ quản, Chiếu bóng tỉnh nhà đã dần dần đi vào ổn định.

 Năm 2005, theo chủ trương mới của Đảng và Nhà nước về việc sắp xếp lại ngành Điện ảnh trên cả nước, UBND tỉnh Quảng Trị đã ra quyết định số 318/QĐ-UB ngày 03/3/2005, chuyển đổi thành Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng. Một hướng đi khá ổn định cho cán bộ Chiếu bóng nói riêng và Điện ảnh cả nước nói chung.

Theo hướng dẫn từ Trung ương đến địa phương về việc tinh giản các đầu mối hoạt động của các ban, ngành. Từ đầu năm 2019, đơn vị đã được nhập với Trung tâm Văn hóa tỉnh để trở thành Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh Quảng Trị. Tên Đội số 1 vẫn được duy trì nhưng bây giờ là lớp trẻ đã đào tạo khá cơ bản để tiếp tục phục vụ bà con vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh.

Hiện nay tại địa bàn tỉnh Quảng Trị (cũ) có 4 khu vực sinh hoạt cán bộ viên chức hưu trí ngành Điện ảnh: Bến Hải, Đông Hà, Triệu Hải và Hướng Hóa. Hàng năm cứ đến ngày truyền thống (15/3) là các khu vực đều tổ chức gặp mặt ôn lại truyền thống. Đặc biệt anh chị em hưu trí khu vực Bến Hải (gồm Vĩnh Linh và Gio Linh) trước đây là Đội số 1, mà tiền thân là Đội 13 đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động nên họ đã phục chế lá cờ nguyên mẫu treo trên phông chính trịnh trọng mỗi lúc hội ngộ.

Từ ngày 01/7/2025, tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị (cũ) hợp nhất thành tỉnh Quảng Trị mới. Tên gọi đơn vị vẫn như cũ là Trung Tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh Quảng Trị và hoạt động bình thường.

Mặc dù ở mô hình nào, tên gọi nào, đơn vị độc lập hoặc đã hợp nhất, ngành Chiếu bóng Quảng Trị vẫn luôn xây dựng cơ quan mẫu mực, đạt chuẩn về văn hóa, vững mạnh toàn diện về mọi mặt, hòa nhịp cùng với cả nước để luôn phát triển. Bên cạnh đó đơn vị cũng biết phát huy truyền thống và sự cống hiến hết mình của các thế hệ đi trước để xây dựng đơn vị trở thành một tập thể lớn mạnh về mọi phương diện, luôn hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị của Đảng và tỉnh nhà giao phó, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, xứng đáng là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận văn hóa, là những người lính xung kích trên mặt trận tư tưởng của Đảng.

H.T.T