☰
Giới thiệu▼
Tin tứcSự kiện & Đối thoại
Sáng Tác▼
Nghệ thuật▼
Lý luận & Phê bìnhNgười & Đất quê hương
MultiMedia▼
Zalo

Viết từ ký ức như sự kiến tạo căn tính

THÚY HẠNH    26/09/2026    178
Nếu đọc trọn vẹn cả hai tập thơ của Kim Nhung viết trong quãng từ 2019 đến 2025 sẽ thấy, dường như, trên con đường Nhung đi, “những khúc quanh” của cuộc đời vẫn luôn “lẫn vào ký ức” (ở ngoài kia[6]). Trong nhiều trường hợp, tứ thơ được xây dựng từ ký ức của chính tác giả. Ký ức tạo nên một bầu khí quyển của thơ cô và góp phần phát triển ý tưởng của toàn bộ tập thơ. Với Nhung, ký ức luôn là một không gian của tâm tưởng - cảm xúc, trong đó, hành vi “nhớ lại” đồng thời là tưởng tượng và viết lại ký ức. Đây cũng là cách để chủ thể thơ khám phá chính mình, qua đó, kích hoạt mọi giác quan để cảm nhận thế giới:“Hương thơm tràn lòng tay/ Mùa quả chín dâng đầy ký ức” (mùa chín); “những gì tôi nhớ được/ về mảnh trời trong mơ/ vẫn không thôi tự sáng” (chớp mắt chiều).

Viết từ ký ức như sự kiến tạo căn tính

(Đọc “Thức cùng tưởng tượng” và “Dần sáng” của Nguyễn Thị Kim Nhung)

 

THÚY HẠNH                

                   

Trong những nghiên cứu về sự tái cấu trúc của ký ức được thảo luận trong triết học, khoa học nhận thức và phê bình văn học đương đại, sự “nhớ lại” có thể được hiểu như một hình thức tưởng tượng tái tạo hoặc mô phỏng[1]. Nhìn từ góc độ văn học, Charles Fernyhough nhấn mạnh rằng, “trí nhớ là nền tảng của trí tưởng tượng. Việc tạo ra các tác phẩm nghệ thuật và trí tuệ mới phụ thuộc rất nhiều vào việc định hình lại những gì đã xảy ra trước đó”[2]. Là một trong những chủ đề trọng tâm của văn học, viết ký ức trở thành một thủ pháp tự sự có khả năng liên kết quá khứ và hiện tại, định hình bản sắc và khám phá những tầng vỉa khác nhau của cảm xúc tâm lý con người, nói như Daniel Schacter: “Ký ức không chỉ dùng để quay lại quá khứ và hồi tưởng về những gì đã xảy ra, nó còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình dung tương lai và cho phép chúng ta tư duy sáng tạo”[3]. Bởi sự hiện diện gần như xuyên suốt của ký ức trong hai tập thơ mà Nguyễn Thị Kim Nhung viết - “Thức cùng tưởng tượng”[4] và “Dần sáng”[5] - tôi quan tâm đến cách Kim Nhung tái hiện ký ức và lồng ghép ký ức với trí tưởng tượng, từ đó, bộc lộ bản sắc của mình qua việc chuyển hóa ký ức từ trải nghiệm cá nhân thành văn bản thi ca.  

Nguyễn Thị Kim Nhung sinh năm 1990, quê ở huyện Cẩm Khê (cũ), tỉnh Phú Thọ, tốt nghiệp Khoa Viết văn – Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội năm 2014. Hiện nay Kim Nhung công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tác phẩm đã xuất bản gồm có: “Thức cùng tưởng tượng” (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2019); “Từ phía sương buông” (Trường ca, NXB Hội Nhà văn, 2021) và “Dần sáng” (Tập thơ, NXB Hội Nhà văn, 2025). Kim Nhung đã được trao tặng các giải thưởng văn học như: Giải Nhì Cuộc thi Thơ Sinh viên năm 2013 do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức, giải Tư Cuộc thi Thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội 2015 – 2016, giải Ba Cuộc thi Thơ Báo Văn nghệ 2020 – 2021 và gần đây nhất là giải Tác giả Trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2025 cho tập thơ “Dần sáng”.

Nếu đọc trọn vẹn cả hai tập thơ của Kim Nhung viết trong quãng từ 2019 đến 2025 sẽ thấy, dường như, trên con đường Nhung đi, “những khúc quanh” của cuộc đời vẫn luôn “lẫn vào ký ức” (ở ngoài kia[6]). Trong nhiều trường hợp, tứ thơ được xây dựng từ ký ức của chính tác giả. Ký ức tạo nên một bầu khí quyển của thơ cô và góp phần phát triển ý tưởng của toàn bộ tập thơ. Với Nhung, ký ức luôn là một không gian của tâm tưởng - cảm xúc, trong đó, hành vi “nhớ lại” đồng thời là tưởng tượng và viết lại ký ức. Đây cũng là cách để chủ thể thơ khám phá chính mình, qua đó, kích hoạt mọi giác quan để cảm nhận thế giới:“Hương thơm tràn lòng tay/ Mùa quả chín dâng đầy ký ức” (mùa chín); “những gì tôi nhớ được/ về mảnh trời trong mơ/ vẫn không thôi tự sáng” (chớp mắt chiều).

Trước hết, ký ức trong thơ Kim Nhung là một yếu tố then chốt kiến tạo nên căn tính tác giả: “Hay là mình hát/ Ru lời tỉnh lẻ xa xăm” (Tháng chạp), “Mẹ đã sinh con tuổi ngựa/ Xin hãy ru con bài hát xa nhà” (Đêm). Thơ Kim Nhung thấm đẫm ký ức về miền trung du - nơi nhà thơ sinh ra và lớn lên. Đó là một không gian tĩnh lặng, êm đềm với “xóm núi buồn hắt bóng xuống mùa thu”, “xóm núi trôi trong đêm trăng”, “đồi núi dong buồm” (Gửi về xóm núi). Trong tương quan với cái tôi, ký ức là cách xây dựng bản sắc cá nhân của thi sĩ. Thơ Kim Nhung nhiều bài được viết từ ký ức của tuổi thơ, hầu hết là những tự sự cá nhân: một căn nhà cũ, “một vành trăng lưỡi liềm”, “một hoàng hôn nhuốm đỏ”, “một áng mây trắng”, một ang nước trong mát. Như thế, viết từ/về ký ức tuổi thơ là cách nhà thơ “đi tìm thời gian đã mất”, nói như Karen Sanchez Epplez, “tuổi thơ là kho lưu trữ, một hộp kho báu chứa đựng những điều hình thành và bị lãng quên”[7]: “Người già ngồi trên bậc cửa/ Nhìn trẻ chơi trước nhà/ Gậy khua vào chạng vạng// Từ khi ấu thơ đi vắng/ Tò vò đắp tổ bỏ không/ Cha cất vài câu chuyện cũ/ Chờ con mấy bận đem hong” (Nhà cũ).

Quan trọng hơn, ký ức không chỉ là chất liệu cho sáng tác mà đã trở thành một nguyên tắc tổ chức thời gian nghệ thuật trong thơ Kim Nhung - một dạng thời gian không vận hành theo tuyến tính mà thường chồng lấn: hiện tại thấm đẫm quá khứ, còn quá khứ lại được “hiện tại hóa” bằng việc nhớ lại. Người đọc có thể hình dung về một miền núi trung du Bắc Bộ Việt Nam yên ả, thuần khiết, trong trẻo được tái hiện từ ký ức của tác giả: “mẹ lên rừng hái măng/ cái đắng lẫn vào vết chém” (Đêm suông), “Ngày ý nghĩ con quay về xóm núi/ nơi cha cuốc đất mỗi ban mai” (Có một ngày), “Bãi sông quê hoa mía nở quên mùa” (Bình yên), “em gái đi hái rau/ dại găm hồn chớm nở/ tức ngực đồi xa” (làng đồi), “trung du khảm khắc nét đồi” (dòng xuân), “mùa thu chìm vào núi” (mưa báo đông), “Đàn bò kéo chiều xuống núi/ Mắt người đăm đắm vào đêm” (Gửi về xóm núi). Đó là một không gian trung du đã được thi vị hóa, nhưng vẫn ẩn giấu trong đó nhiều nỗi buồn sâu kín: “Ngày ý nghĩ con quay về xóm núi/ Nơi cha cuốc đất mỗi ban mai (…)/ Căn nhà phên liếp/ Mỗi mùa nghiêng một hướng/ Cha buộc bịn chống đỡ bằng những lời răn/ Lòng con thành nứa cật// Trung du là tiếng thở dài/ Những quãng đứt khiến núi đồi mỏi mệt” (Có một ngày).

Ký ức trở thành không gian giàu tính lý tưởng (utopia) - nơi thi sĩ như đứa trẻ mãi rong chơi trong thiên đường của riêng mình, cũng là nơi chủ thể trữ tình có thể quay về, trú ngụ và trải nghiệm lại tuổi thơ như một bến bờ bình yên nhất của tinh thần: “Ai về khu vườn của nội/ Cho tôi thăm lại luống cà/ Và bông hoa chưa bao giờ kết trái” (Khu vườn ký ức).

Ký ức trong thơ Kim Nhung đôi khi được cảm giác hóa và âm thanh hóa. Phương thức này cho phép nhà thơ tái hiện một không gian trung du vừa quen vừa lạ, được lọc qua tưởng tượng và ý thức chủ quan của tác giả:“giọng ai nhắc trong vời xa…/ em hãy về xem hoa trái vườn cha” (Nhìn nắng); “Cánh đồng ngủ trưa/ cựa mình nói nhảm” (Trung du).

Ký ức trong thơ Kim Nhung còn là sợi dây liên kết chủ thể trữ tình với những người thân thuộc nhất, như ký ức về cha, về bà - gắn với những chi tiết đời sống giản dị nhưng giàu sức gợi: “Con thay cha mời khách/ tiếng bẻ củi hẫng lòng nước sôi…ban mai nào đưa cha về lại/ nắng cuối đông trong như rượu gạo” (bóng cha), “mảnh vườn cha đeo địu trăng trôi” (Nhìn nắng), “bà trở về gò Trám/ nắng tháng tám chéo vạt áo ghi/ đàn bò tự trổ lối đi/ tôi đánh mất điều phấp phỏng” (chớp mắt chiều). Tuổi thơ trong thơ Kim Nhung thường hiện lên với hai sắc thái đan xen: vừa trong trẻo, yên ả, vừa phảng phất buồn. Đó là ký ức về một đêm “mẹ trở dạ”,“đêm mùa thu quằn quại tóc rối”, đêm “mưa tháng chín đồng lõa” (Trung du). Đôi khi, tuổi thơ ấy còn in dấu ấn của một thời kỳ lịch sử gian khó “sữa mẹ ngày đói không đủ chia phần” (Trung du) - khi đó, ký ức tuổi thơ không chỉ là trải nghiệm cá nhân, mà còn phản chiếu ký ức tập thể.   

Mặt khác, như Paul Ricoeur[8] từng chỉ ra, ký ức cũng là lĩnh vực của trí tưởng tượng và đó là hai phương diện cùng chung số phận trong nhiều văn bản. Ngay từ nhan đề tập thơ đầu tay của Kim Nhung - “Thức cùng tưởng tượng” - đã có thể thấy mối quan hệ gắn bó giữa ký ức và tưởng tượng, hai bình diện thường đồng hiện và bổ sung cho nhau trong nhiều bài thơ của cô. Trong thơ Kim Nhung, ký ức trở thành chất liệu kích hoạt và nuôi dưỡng tưởng tượng. Nhìn từ cơ chế tư duy thơ ca, ký ức là điểm xuất phát để trí tưởng tượng vận động:“Giữa phố chật lòng như sông vắng/ Chợt bình yên chợt buồn bã dâng lên/ Không có đò qua sông bằng tưởng tượng” (Đêm thiếu phụ. Đôi khi ký ức tái hiện trạng thái di dịch của chủ thể:“Ta đã đến từ nhiều năm trước/ Ai chẳng vài chuyến đi xa trên chính quê hương mình” (Đỉnh mưa)

Chủ thể trong thơ Nhung thường tìm cách diễn giải quá khứ từ vị thế của hiện tại:“Lâu rồi anh không nhắc về mùa cải đắng (…)/ Dạo ấy chúng mình không nói dối và tóc em dài hơn/ Đôi lần trong vườn hoa thành phố/ Em gặp màu áo cưới ngày xưa/ Từa tựa hình tan vỡ” (Còn lại). Viết về quá khứ là để suy tư về quá khứ:

“Mẹ bảo, kỷ niệm là tấm thảm đẹp thi thoảng đem ra phơi”(Người con gái thứ hai). Và nhận thức hiện thực:“Tháng năm mải miết trôi về phía trước vẫn gặp lại chính mình/ Em nắm chặt vẫn làm rơi ký ức/ Vấp vào bóng tối/ Làm rơi hiện thực/ Điều đã mất chỉ về trên câu hát” (Đi tìm điều đã mất).

Kim Nhung thường trừu tượng hóa ký ức và hòa trộn nó cùng tưởng tượng. Ký ức trong thơ cô là sự hiện diện ở thực tại của những điều vắng mặt: “trẻ chăn bò tìm đến/ tôi rời đi trước những gọi mời” (Khu vườn bí mật). Sự nhớ lại và tưởng tượng kết hợp với nhau đã tạo thành một chuyến du hành thời gian dành riêng cho Nhung: “Khói cuối năm vẽ đường về quá khứ” (những đứa trẻ). Viết về ký ức chính là để cho sự vắng mặt được tái dựng, chẳng hạn, một bản thể trẻ thơ của tác giả ở quá khứ: “một đứa trẻ từ nhiều năm trước/ vụng về tạm biệt khu vườn/ gai dứa dại cứa vào nỗi nhớ/ tôi trở về nghe tiếng khóc bé con” (Khu vườn bí mật).  

Mặc dù ký ức trong thơ Kim Nhung chủ yếu là hồi ức cá nhân, nhưng có lẽ, không dừng lại ở hồi ức riêng tư của tác giả, nó phần nào phản ánh tâm thức của một thế hệ rời làng quê ra phố thị, không ngừng hoài nhớ và băn khoăn về căn tính của mình (Gốm, Đi tìm điều đã mất). Do đó, ở phương diện này, viết về ký ức còn là một cách để sự suy tư về di sản truyền thống. Trong nhiều bài thơ viết từ cảm hứng ấy, Kim Nhung bộc lộ niềm tin chân thành vào vẻ đẹp của quá khứ - một quá khứ có khả năng bù đắp tinh thần. Chính sự chân thành đó làm nên điểm sáng của thơ cô: “Cha rít điếu làm gì/ Đã rỗng lòng tre trúc. (…)/ Cha bảo con gái trung dung phải biết ăn rau đắng/ Bởi không tin vào những ngọt bùi/ Con không nghe con đi tìm cỏ mật/ Mun mút mùa ăn năn/ Roi cha gác bếp còn lằn ấu thơ” (Có một ngày).

Mặt khác, cũng cần nhắc đến cảm thức nostalgia (hoài niệm) như một trục cảm xúc xuyên suốt trong thơ Kim Nhung. Cảm thức hoài niệm bộc lộ rõ nét từ Thức cùng tưởng tượng đến Dần sáng. Thơ Nhung, nhiều khi là những thực hành viết khởi đi từ nỗi hoài niệm. Những thực hành ngôn ngữ này còn có nghĩa như là sự kháng cự trước những mất mát do thời gian trôi và sự đổi thay của xã hội: “Chưa có dịp trở về con đường mười bảy/ Tìm một tiếng cười đánh rơi từ nhiều năm trước (…)” (Đi tìm điều đã mất). Cảm thức hoài niệm là nỗi nhớ tiếc quá khứ được gọi thành tên:“Ừ nhỉ, sao cứ là hối tiếc/ Khi không thể quay về ngày xưa/ Những ngày lạnh nhất của mùa đông/ Em nhớ anh bằng tất cả những việc em làm những điều em nghĩ” (Người con gái thứ hai);“Giã từ ấu thơ/ Lúc khói chiều chưa kịp tắt/ Hạt thóc sót lại trong bát cơm trắng/ Thành chiếc thuyền đơn độc qua sông// Ký ức có ngủ nơi lòng giếng/ Mỗi lần nhớ về lại thấy mình rơi” (tháng tư trở lại).

Trong nhiều trường hợp, dưới sự chi phối của cảm thức hoài niệm, ký ức không ngủ yên trong quá khứ mà liên tục trở đi trở lại, thấm vào đời sống hiện tại của nhà thơ như một dòng chảy ngầm. Những va chạm rất nhỏ của thực tại cũng có thể trở thành điểm kích hoạt ký ức: “trẻ chăn bò tìm đến/ tôi rời đi trước những gọi mời” (Khu vườn bí mật). Một hình ảnh được bắt gặp ở hiện tại nhưng lập tức mở ra sự đối chiếu với chính mình trong quá khứ: “một đứa trẻ từ nhiều năm trước/ vụng về tạm biệt khu vườn/ gai dứa dại cứa vào nỗi nhớ/ tôi trở về nghe tiếng khóc bé con” (Khu vườn bí mật). Ngay cả khi đặt mình giữa không gian phố thị, dòng ký ức ấy vẫn không ngừng vận động: “về mảnh trời trong mơ/ vẫn không thôi tự sáng” (Chớp mắt chiều), hay “khói cuối năm vẽ đường về quá khứ” (Những đứa trẻ). Đó chính là tâm thức ở hiện tại của “người xa quê ý nghĩ như mây” (suối nhỏ), mặc dù đã “giã từ ấu thơ” nhưng “tháng tư” vẫn “trở lại”, khiến “lòng sành tăm lên li ti nỗi nhớ” (dòng xuân).

Rất khó tìm trong thơ Nguyễn Thị Kim Nhung những cảm xúc mãnh liệt, những suy tư căng thẳng, phức tạp, ráo riết, thơ Nhung là một nốt trầm, trong và dịu lắng của ký ức. Nhưng chính sự dịu dàng như thế của ngôn ngữ thơ ca có thể xem như một phương thức kháng cự trước một hiện thực khắc nghiệt và tàn bạo ở thực tại:“Em đợi gì ngó mãi vào sen/ Giữa hương và nhụy là người xa vắng”  (tháng tư trở lại).

Nhìn chung, có thể thấy ký ức giữ vai trò đặc biệt trong hành trình định hình và phát triển bản sắc của người nghệ sĩ. Ký ức là một yếu tố quan trọng trong quá trình tư duy sáng tạo; việc viết từ/bằng ký ức là một hành vi tạo nghĩa. Dường như, với Nguyễn Thị Kim Nhung, thơ ca đóng vai trò như một không gian lưu trữ ký ức và xây dựng bản sắc từ ký ức đó. Dù “mọi ký ức đều hàm chứa một thời gian đã trôi qua”[9], nhưng Kim Nhung viết về ký ức không phải để chất vấn quá khứ, hiện tại hay tương lai, mà để gìn giữ ký ức cho nó không bị biến mất – một ký ức mà tôi tin rằng đã trở thành di sản quý giá của riêng Nhung và những người yêu mến thơ Nhung.

T.H

Hà Nội, 31/12/2025



[1] Chẳng hạn, tham khảo: Michaelian, Kourken. 2016. Mental Time Travel: Episodic Memory and Our Knowledge of the Personal Past. Cambridge: The MIT Press.

[2] Fernyhough, Charles. 2012. Pieces of Light: How the New Science of Memory Illuminates the Stories We Tell about Our Pasts. New York: Harper Collins, pg.5.

[3] Dẫn theo https://www.harvardmagazine.com/social-sciences/harvard-study-memory-creative-thinking.

[4] Nguyễn Thị Kim Nhung. 2019. Thức cùng tưởng tượng. Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

[5] Nguyễn Thị Kim Nhung. 2025. Dần sáng. Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.

[6] Tên của các bài thơ trong tập Dần sáng (2025) không được tác giả viết hoa.

[7] Sánchez-Eppler, Karen. 2013. In the Archives of Childhood. In The Children’s Table: Childhood Studies and the Humanities. Edited by Anna Mae Duane. Athens and London: University of Georgia Press, pp. 213–37, p: 213.

[8] Paul Ricœur. 2004. Memory, History, Forgetting. University of Chicago Press, pg. 8.

[9] Nguyên văn: “All memory, therefore, implies a time elapsed” (Aristotle, De memoria et reminiscenza), https://classics.mit.edu/Aristotle/memory.html.