Hành trình đi tìm tâm điểm của sự trọn
vẹn
(Đọc Giá ta là em, tập thơ của Nguyễn
Tiến Nên, NXB Hội Nhà văn, 2026)
HOÀNG ĐĂNG KHOA
Thiếu em/ anh không định
nghĩa được/ đường tròn (Com-pa). Đọc, rồi đọc lại lần nữa Giá ta là em của
Nguyễn Tiến Nên, bất ngờ thú vị khi thấy dường như cả tập thơ đều châu tuần vào
điểm hội tụ là câu thơ vừa trích dẫn.
Thoạt nhìn, đây chỉ là một liên tưởng
tình yêu khá duyên dáng: chiếc com-pa muốn vẽ được đường tròn phải có một chân
làm tâm điểm. Nhưng đọc rộng ra toàn bộ tập Giá ta là em, có thể nhận ra
“em” là một phạm trù “mở”. “Em” không chỉ là người yêu, mà còn là mẹ, là cha,
là hương đất tình người, là Tổ quốc, là tha nhân, là những gì đẹp đẽ nhất mà
cái tôi trữ tình luôn hướng đến, bằng tất cả sự nâng niu ấp iu. Thiếu những điều
ấy, con người khó có thể hoàn thiện chính mình. Thiếu “em”, “đường tròn” của
“tôi” sẽ không bao giờ khép kín.
Giá ta là em phải chăng là hành trình đi
tìm tâm điểm ấy, tức hành trình đi tìm điều làm nên sự trọn vẹn của một con người
đã đi qua nhiều biến động, nhiều miền đất, nhiều cuộc gặp gỡ và nhiều suy tư
trăn trở.
Ngay từ lời thưa đầu sách, Nguyễn Tiến
Nên cho biết ông từng có ý định phân chia tập thơ thành nhiều phần. Sau cuối,
ông quyết định để các bài thơ giao thoa đi lại tự do giữa thế thái nhân tình,
giữa niềm vui và nỗi buồn của đời sống. Chính sự đan xen ấy đã tạo nên một cấu
trúc cảm xúc cho tập thơ. Quê hương đi liền với gia đình, gia đình mở sang tình
người, tình người lại dẫn đến những quan hoài về nhân thế... Các bài thơ không
đứng riêng lẻ mà liên tục đối thoại, soi chiếu, như những cung đoạn khác nhau của
cùng một hành trình tinh thần.
Điểm xuất phát của hành trình ấy là
gia đình. Trong thơ Nguyễn Tiến Nên, hình tượng mẹ xuất hiện nhiều lần, không
phải như một biểu tượng được lí tưởng hóa, mà như một nguồn năng lượng nâng đỡ
đời sống. Ở Vầng trăng đầy đặn, chỉ vài câu thơ ngắn cũng đủ gợi lên cả
một đời hi sinh: Mẹ bán mọi thèm muốn/ khát khao/ mua vầng trăng đầy đặn.
Mẹ không làm những điều phi thường, chỉ im lặng đánh đổi, quên phía mình để chắt
chiu gìn giữ niềm vui và hạnh phúc cho con cháu. Chính sự bình dị ấy lại tạo
nên vẻ đẹp lớn lao.
Đến Mẹ không đâu xa, nỗi nhớ được đẩy sâu hơn vào miền
tâm thức: Nhìn đâu con cũng thấy hình bóng mẹ. Mẹ hiện diện không còn bằng
thân xác, mà bằng những đồ vật gần gụi, bằng những thói quen đời thường, bằng một
thứ ánh sáng âm thầm vẫn tiếp tục soi rọi cuộc đời người con. Ở đây, sự mất mát
không dẫn đến tuyệt vọng, mà trở thành một hình thức “có mặt” khác của yêu
thương.
Nếu mẹ là vầng ấm dịu dàng thì cha hiện
lên như biểu tượng của sức mạnh và sự dẫn dắt. Trong Bóng núi, người cha
được hình tượng hóa thành “ngọn núi”: Ngọn núi ấy người thầy tuổi thơ con.
Núi là nơi che chở, là điểm tựa, là người hướng đạo. Khi “ngọn núi hóa mây”,
người con mới cảm nhận hết khoảng trống mênh mông sâu thẳm. Nỗi đau riêng của một
cá nhân có khả năng trở thành cảm thức chung của những ai từng mất đi suối nguồn
cuộc sống.
Con người chỉ có thể đi xa khi mang
theo những gì thân thuộc nhất. Từ gia đình, hành trình cảm xúc của Nguyễn Tiến
Nên ngân xa đến những nơi đã qua, những người đã gặp. Đây là một trong những mảng
thơ nổi bật của tập sách. Tác giả đi qua nhiều địa chỉ: Cẩm Xuyên, Ngũ Hành
Sơn, Đắk Nông, Đồ Sơn, Nha Trang, Tam Giang, Chùa Hương... Đáng nói hơn là ông
không nhìn những địa danh ấy bằng con mắt một du khách. Điều ông tìm kiếm không
phải thắng cảnh, mà là phần hồn văn hóa, lịch sử, là “đất ấm tình người gieo hạt
đơm hoa”.
Trong Mãi mãi hương bần, chỉ một
nụ hoa bần thôi cũng đủ neo giữ kí ức về đất và người: Mãi mãi mang theo/ một
nụ hoa bần/ chẳng làm anh nghèo/ kí ức về em. “Em” là người thương, cũng là
quê hương, là thiên đường đã mất. Nụ hoa bần vừa là một hình ảnh thực, vừa là
kí hiệu, là “vật chứng” của những gì còn lại sau bao biến dịch dâu bể.
Hay trong Giã từ một cổ tích,
tác giả bày tỏ nỗi tiếc nuối trước sự mai một của những giá trị truyền thống: Cổ
tích tự xóa dấu vết mình/ rời xứ ra đi. Câu thơ gợi nhiều suy nghĩ. Điều
“ra đi” không đơn giản là một truyện kể dân gian, mà quan trọng là một phần kí ức
cộng đồng, một phần hồn xưa văn hóa làng quê.
Ở những bài thơ như Mênh mang Cẩm
Xuyên, Đà Nẵng vào thơ, Với Nha thành, Về Đắk Nông…,
những tên đất hiện lên qua những lớp trầm tích thời gian. Đất đai trong thơ
Nguyễn Tiến Nên luôn mang gương mặt của con người. Mỗi địa danh là một thanh âm
riêng, một cách trò chuyện riêng với nhà thơ.
Từ những miền quê mà tác giả đã đi
qua, cảm xúc thơ nhiều khi được nâng lên thành ý niệm về Tổ quốc như một không
gian tinh thần rộng lớn. Trong bài Yêu chiếc áo trên mình xứ sở, đất nước
được hình dung như một cơ thể sống. Đó là một xứ sở từng đi qua chiến tranh,
thiên tai và những cuộc “trở dạ” nhọc nhằn của lịch sử, nhưng vẫn bền bỉ hồi
sinh trong những sắc màu trẻ trung của sự sống. Hình ảnh “chiếc áo trên mình xứ
sở” là một liên tưởng đẹp. Đất nước không phải khái niệm trừu tượng hay diễn
ngôn chính trị, mà là hình hài thân gần, mang hơi ấm của một người mẹ. Yêu Tổ
quốc, trong cảm thức ấy, trước hết là yêu những gì đang bao bọc và nuôi dưỡng đời
sống mình.
Ở nhiều bài thơ khác như Trước ngọn
chướng Hòn Khoai, tình yêu đất nước lại được soi chiếu từ những số phận cụ
thể. Hình ảnh người mẹ già lần đầu đến đất Mũi, nâng niu chai nước biển như máu
xương của con mình, đã làm cho không gian địa lí của Tổ quốc trở thành một
không gian của tình thân.
Như vậy, đất nước hiện lên bằng chiều
dài lãnh thổ, đồng thời bằng những mối dây gắn bó như tình ruột thịt, nghĩa đồng
bào. Các địa danh trong tập thơ không dừng lại là những điểm đến, mà còn hợp
thành một bản đồ cảm xúc về đất nước.
Từ gia đình, quê hương, những miền đất
đã đi qua đến Tổ quốc, vòng tròn cảm xúc trong thơ Nguyễn Tiến Nên ngày càng mở
rộng. Song le, lực hướng tâm của vòng tròn ấy vẫn là những giá trị nhân bản.
Nhiều bài thơ trong tập trở đi trở lại với chữ “Nhân”. Ở Ngộ, sau những
suy tư về cám dỗ, vô thường và được mất, tác giả đi đến một kết luận giản dị: Cuộc
đời vốn vô thường vô nghiệp/ tất cả đều vắt nặn chữ “Nhân”. Đây là triết lí
được trích xuất từ trải nghiệm sống, từ va đập với thực tế đời thường.
Tinh thần ấy hiện diện trong những
bài thơ viết về thiên tai, mất mát và những phận người gặp biến cố. Ở Gửi
người tận hiếu, thơ được nhìn như một hành động sẻ chia: Dòng thơ tôi chẳng
phải gánh gồng/ góp chút lửa ấm lòng tận hiếu. Theo quan niệm của Nguyễn Tiến
Nên, thơ không nên tham lam mang vác sứ mệnh cao đại, mà chỉ nên khiêm cung “góp
chút lửa” sưởi ấm những thiện tâm.
Sang Điểm tựa, điều giúp con
người vượt qua những cơn ác mộng của đời sống không phải phép màu mà là lòng trắc
ẩn. Trong Khát vọng, ánh sáng vẫn được giữ lại giữa bóng tối. Trong Chuyện
cùng chiếc lá, chiếc lá “còn thơm mùi sữa mẹ” trở thành biểu tượng của khả
năng lắng nghe và sẻ chia.
Ngay cả khi đối diện những vấn đề thế
sự, nhà thơ cũng không lựa chọn giọng điệu cực đoan. Ông thiên về cảnh báo, nhắc
nhở và đánh thức lương tri hơn là phán xét. Đó là lí do nhiều bài trong tập
luôn giữ được một sắc thái nhân hậu, dù đôi khi vẫn không giấu nổi những băn
khoăn hoang mang trước thực trạng đời sống.
Đọc Giá ta là em, người đọc dễ
nhận ra một mô-típ lặp đi lặp lại: sự kết nối. Kết nối giữa người với người. Kết
nối giữa quá khứ và hiện tại. Kết nối giữa cá nhân và cộng đồng. Kết nối giữa
giấc mơ và hiện thực. Kết nối giữa hao khuyết và viên thành. Có lẽ chính nhu cầu
kết nối ấy đã khiến nhà thơ lựa chọn một nhan đề đầy chủ ý: “Giá ta là em”.
Thông thường, thơ tình nói đến việc tìm kiếm một người khác,
hướng tới một người khác, hoặc mong người khác thuộc về mình. Nhưng ở đây, nhà
thơ không nói “giá em là ta”, cũng không nói “giá ta có em”, mà nói “giá ta là
em”. Cách nói này mở ra một tầng ý nghĩa đáng suy ngẫm. Không còn là khát vọng
sở hữu hay chiếm hữu. Cũng không phải sở cầu được đáp lại. Đây là khát vọng hóa
thân. Được bước sang phía người khác để hiểu họ. Được vượt khỏi những giới hạn
của cái tôi để sống trong những giá trị phổ quát hơn. Được trở thành một phần của
yêu thương thay vì chỉ là người tiếp nhận yêu thương.
Nhìn từ góc độ này, bài Com-pa có thể xem là chiếc
chìa khóa mở vào toàn bộ tập thơ. “Em” là tâm điểm. “Em” là nơi neo giữ bản
ngã. “Em” là điều kiện để cái tôi tìm thấy ý nghĩa tồn tại của mình. Bởi vậy,
câu thơ Thiếu em/ anh không định nghĩa được/ đường tròn không còn là một
câu thơ tình đơn thuần. Nó là một tuyên ngôn nhân sinh, là một cách nói khác về
nhu cầu được tương giao, hoà ái, được sống vì người khác của con người.
Giá ta là em không phải là một tập thơ đồng đều. Chính tác giả cũng thẳng
thắn thừa nhận điều đó trong lời đầu sách. Vẫn có những bài còn thiên về kể, về
ghi chép cảm xúc trực tiếp; vẫn còn dấu vết của văn phong báo chí trong một số
đoạn thơ. Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là nỗ lực làm mới ngôn ngữ và liên tưởng
của tác giả. Nguyễn Tiến Nên có khả năng tạo ra những câu thơ không bão hòa. Chẳng
hạn: Mẹ bán mọi thèm muốn/ khát khao/ mua vầng trăng đầy đặn. Hoặc: Cổ
tích tự xóa dấu vết mình. Hay: Thiếu em/ anh không định nghĩa được/ đường
tròn. Phía sau những câu thơ kiểu này là một phát hiện cảm xúc hoặc một
phát hiện nhận thức.
Điều đọng lại sau khi đi hết tập thơ là cảm giác ấm áp về một
thế giới mà ở đó con người vẫn còn tin vào nhau, còn muốn trở thành điểm tựa
cho nhau, còn cố gắng bảo giữ những giá trị tốt đẹp giữa ba đào thế cuộc.
Suy cho cùng, sự trọn vẹn của đời sống không đến từ việc ta sở
hữu được bao nhiêu thứ, mà đến từ việc ta tìm thấy ai, tìm thấy điều gì khả dĩ
làm tâm điểm cho vòng tròn tồn tại của mình.
Càng đi xa khỏi cái tôi, chủ thể trữ tình càng tiến gần hơn tới
tâm điểm của sự trọn vẹn. Hành trình thơ của Nguyễn Tiến Nên, tựu trung, là
hành trình đi tìm tâm điểm ấy.
