- Con chuyên nghề bóng mực mà, sao hôm nay lại rủ ba đi câu đêm?
- Đợt này mực áp nhiều lắm ba. Đi câu bữa mực ống cho nó thay đổi không khí!
- Vậy à? Gì chứ câu mực ống thì ba mê lắm, chốt luôn nha con!
Vậy là đêm nay tạm biệt bàn phím vi tính, bố con tôi lên thuyền
ra khơi câu mực. Con trai tranh thủ tóm thêm mấy bộ đồ câu, nạp điện thêm cho
bình ắc quy. Sau khi nhận làn cơm bới từ tay con dâu, chúng tôi xuất bến.
Giờ này, phía cửa sông, tàu thuyền ra vào gần như nối đuôi
nhau. Mặt trời chiếu qua những dãy nhà cao tầng, đổ bóng xuống con đường đi bộ
trước làng, nườm nượp hàng quán. Càng về chiều, ngọn nồm càng dịu mát, mang đến
cảm giác dễ chịu. Sóng đã bớt lao xao, thỉnh thoảng vài ba chú cá chuồn vút lên
khỏi mặt nước, lao đi như chiếc phản lực cất cánh từ “con tàu” sân bay vậy.
Con thuyền chất liệu composite động cơ 24 sức ngựa phăm phăm rẽ
sóng, trên thuyền chỉ có hai ngư phủ. Đã lâu tôi không đi biển nhưng với tôi,
chuyện gì chứ say sóng thì… không đáng lo. Tôi mở túi đồ nghề, tranh thủ làm mấy
kiểu, biển lúc này vào ảnh mới rực rỡ làm sao; trong khi con trai vừa cầm lái,
vừa xem màn hình định vị để chọn vị trí thả neo.
Sau cả giờ đồng hồ “bành bành” đạp nước, tiếng nổ hạ dần, cỗ
máy tạm thời được nghỉ ngơi sau khi thuyền đã buông neo. Không gian biển trước
hoàng hôn vừa đẹp một cách thơ mộng, vừa thanh bình đến nao lòng. Thuyền trưởng
xem hướng gió, đoạn mở hộp lấy ra đường câu “lông cò”. Đây là hình thức câu cá
bằng mồi giả, thuở trước người ta xé nhỏ lông cò, hoặc lông gà màu trắng để thắt
vào lưỡi câu, sau này là sợi ni lông. Mỗi đường câu được thắt từ 15 - 20 lưỡi
câu, sau cùng là một thỏi chì, vừa đủ tạo trọng lực để đường câu dễ dàng bay
xa. Câu lông cò phải dùng cần câu và ống câu, đầu cần có lắp ròng rọc để luồn
dây cước. Khi tung đường câu ra, người câu phải giật liên tục, các loại cá nục,
cá bạc má, cá chỉ vàng… nhầm tưởng đó là con mồi, lập tức bu lấy và dính lưỡi
câu. Vào những chiều thuận nước, cá ăn tíu tít, mỗi đường 5 - 7 con, 9 - 10
con, có những lúc cá ăn gần hết tất cả lưỡi câu.
Bước
đầu thế là thuận lợi. Sau chừng chục lượt vạt câu, cá nục xanh, cá bạc má bén mồi
thật nhiều. Nhìn con trai cuộn ống câu có vẻ nặng nề, cần câu cong vút, vít xuống
sát mặt nước, tôi biết ngay là cá ăn dày lắm. Con cuộn hết đường câu, một chuỗi
dài những chú cá vùng vẫy, ngời lên dưới ánh chiều vui mắt làm sao. Hai bố con
gỡ nhanh tay để còn tranh thủ lượt khác, “chim chết vì nhạ,
cá chết vì nước”, thường con cá nó chỉ say mồi một lúc nào đó thôi. Xem
chừng đã đủ mồi cho một đêm câu mực, dù biết mồi câu hiện nay chủ yếu là mồi giả
được sản xuất đại trà, một số có hình con tôm, một số khác thon thon hình viên
đạn được đúc bằng chì, tất cả đều gắn chùm lưỡi câu, thường gọi là “rường”, rường
câu mực. Tuy nhiên cái nghề nó thế, phải chuẩn bị trước, có những đêm con mực
nó không theo mồi giả, lúc này móc mồi thật thả xuống là trĩu ngay. Thuyền trưởng
thu dọn đường câu lông cò, còn tôi bày làn cơm ra, bố con tranh thủ đưa “mấy hạt”
vào bụng. Bữa ăn ở biển thường nhanh gọn, chẳng thư thả như ở nhà; vì trong
thâm tâm, ai cũng hướng vào buổi hành nghề đêm nay. Bữa cơm kết thúc, bát đũa
được cho tất vào chiếc làn nhựa, không rửa ráy gì, sáng mai về bờ mới... giải
quyết.
Hai ngọn đèn pha dạng LED được bật sáng ở hai phía mạn thuyền,
đó là thiết bị dùng để thu hút các loài thủy sinh. Bóng đèn LED trụ DC12V, công
suất 30W sử dụng dòng điện một chiều từ bình ắc quy, độ sáng cực mạnh nhưng êm
dịu và ít tiêu hao điện. Trước đây, người câu mực thường dùng đèn măng-sông; tiếp
đến dùng bình ắc quy và bóng đèn cao áp. Trường hợp này cần có bộ tăng phô điện
tử tích hợp, để nắn dòng điện một chiều thành xoay chiều và tăng điện áp lên
220V. Khi phát hiện thấy vùng sáng, các loại mực, cá lớn, cá bé, thậm chí rất
bé cũng tìm đến. Có loại lượn lờ trên mặt nước nhưng đa số chúng thường đi ở tầng
sâu, đây cũng là dịp để các loại cá lớn bắt mồi tốt nhất.
* * *
Biển đang vào mùa, đêm xuống, ánh đèn chiếu sáng cả một vùng trời,
mặt biển rực lên như thành phố nổi. Đèn soi cá ruốc của những con tàu làm nghề
đẩy te; đèn gọi cá, mực của tàu mành chụp; đèn hành trình, tín hiệu di chuyển của
các tàu giã kéo; đèn câu mực của thuyền composite, thuyền thúng đủ các màu,
sáng vàng, sáng xanh, sáng dịu… nhấp nhánh như hàng nghìn đôi mắt của biển.
Hai bố con mỗi người một phía bắt đầu buông câu. Gần nửa tiếng
trôi qua, cả hai bố con chưa ai dính mực, dù đã thử cả mồi thật lẫn mồi giả.
Thuyền trưởng quyết định chuyển vị trí, cỗ máy lại “pành pành”; tiếng vào số
đánh “khực”, con thuyền rùng mình chồm lên rồi lướt đi, hai bóng đèn pha vẫn tỏa
sáng hai bên mạn thuyền. Chừng chục phút sau, tiếng máy giảm dần rồi ngưng hẳn.
“Nhờ ba thả neo giúp con!”, thuyền trưởng nói. Ở phía mũi thuyền, tôi thả chiếc
neo bằng sắt, cùng vài ba chục sải dây neo sợi PE (polyethylene) xuống biển.
Con thuyền dạt hết quán tính thì đổi hướng lúc dây neo vừa căng. Tôi vẫn chưa
hiểu lý do nào, thuyền trưởng di chuyển đến vị trí này...
Những đường câu lại được thả xuống biển, mỗi người cầm hai tay
hai đường, liên tục giật; giật là để đánh lừa con mực, nếu để yên nó phát hiện
đồ giả, nó còn theo làm gì. Khi trong hai đường có một bên nặng trĩu, chính là
mực đã đóng rường, lập tức dùng chân giữ một đường, tập trung kéo đường kia, phải
kéo liên tục, vì nếu để đường câu chùng lại, con mực có thể dễ dàng thoát thân.
Vừa thả câu chưa được chục phút, từ phía sau lái thuyền vọng tới, âm thanh chẳng khác gì trẻ con vừa tắm vừa giỡn nhau. “Cá bớp bắt mồi đó ba!”. Vừa nói, con trai vừa mở hộp lấy ra đường câu cỡ cước số 7. Thường với người giỏi nghề, không bao giờ họ chuyên chú một loại câu. Trong hành trang nghề nghiệp của họ có rất nhiều thứ đồ câu. Ngoài câu mực, họ còn sắm thêm nào câu chạy, câu dong, câu tay, câu vạt… khi cần loại câu nào, họ mở thùng đồ ra là có đầy đủ mọi thứ.

Móc con cá bạc má thả trôi về sau. Chừng vài phút, xoảng, xoảng…,
con cá bớp đã cắn mồi. Làm nghề câu, mỗi khi gặp cá lớn dính mồi, họ bắt đầu
chuẩn bị một cuộc kéo co. Riêng động tác lùa con cá để đưa nó lên thuyền, còn hấp
dẫn hơn cả xem bộ phim kiếm hiệp. Hai tay chuyền đổi nhau để ghì với con cá. Hễ
thấy nó đuối sức thì tranh thủ kéo, khi nó vùng chạy thì nới dần ra nhưng không
để dây câu quá chùng. Hai bên giằng co nhau chừng vài chục phút, con cá bớp
không chịu được, nổi phềnh lên mặt nước. Đang kéo vào bình thường, đột nhiên nó
cắm đầu xuống, lao vun vút; những lúc này, nếu thả tự do cho nó, lưỡi câu rất dễ
bị sổng. Phải ghì với nó tới cùng, chỉ đâm câu (nới) khi cảm thấy quá căng mà
thôi. Cuối cùng, con cá vẫn ngoan ngoãn quay đầu, khi kéo nó vào gần mạn thuyền,
tay vừa cầm dây câu, con trai vừa lăm lăm lưỡi khấu. Hực, một cú móc ngoạn mục,
lưỡi khấu cắm phập vào dưới ức con cá, hai bố con cùng nhau kéo lên, con bớp dễ
đến chục ký, đen trũi nằm ngang giữa lòng thuyền. Lát sau nó được cho xuống chiếc
thùng lạnh có sẵn đá dưới khoang thuyền. Tuy không nói ra nhưng trong lòng rất
hào hứng, bố con tôi trở lại với việc câu mực.
Chừng như lũ mực đã bắt đầu say đèn, say mồi, từ đây bố con tôi
thay nhau dính mực. Con trai móc con mực ống non gang tay vừa kéo lên vào lưỡi
câu dong, nó co thân lại, từ chòm râu phát ra những tiếng “xụt xụt” cùng thứ nước
màu đen, “vũ khí” lợi hại của loài mực. Tung con mồi ra xa, lồng ống câu vào cọc
chèo bên mạn thuyền, cần thủ tiếp tục cầm dây câu mực. Nghề câu dong là thế, cứ
thả cho con mồi trôi tự do, cần thủ phải ngồi gần nơi có ống câu để thuận tiện
theo dõi, khi cá cắn câu nó sẽ tha con mồi phóng đi, lúc này chiếc ống câu xả
cước “rột rột”, người câu nhận biết và kịp thời nắm lấy dây câu…
Đang
say sưa với hai đường câu mực trên tay, bỗng chiếc ống câu quay xào xào. Một động
tác rất lẹ làng, cần thủ nắm lấy dây câu phía ngoài bắt đầu cuộc kéo co mới; lại
ghì lại buông nhưng đòi hỏi phải luôn giữ căng cho dây câu. Tôi thu nhanh câu mực
để hỗ trợ con trai trong pha lùa cá gay cấn này. Cầm sẵn lưỡi khấu, tôi đứng ở
tư thế thuận chiều để trao cho con. Nhìn xuống nước, một vật màu trắng đang được
kéo lên, mỗi lúc một gần, trông rõ lớn. Cần thủ nói khẽ: “Cá nhồng! Phải năm
sáu “lô” đó ba!”. Hồi hộp dõi theo từng nhịp kéo của con, tự nhiên tôi thấy dây
câu chùng hẳn. Con nhồng thấy bóng thuyền, bóng người, nó giật mình phóng lên gần
mặt nước. Và… chính lúc đó, lưỡi câu bị văng ra, con cá chạy thoát trong sự tiếc
nuối của hai bố con. Con thì vỗ đùi đen đét như muốn đứt ruột; cha cũng đứng
“ngẩn tò te” chưa biết xử lý thế nào. Ai mà chả tiếc, “nhất cá ăn câu, nhì
trâu bạng chắc” mà, đã có nhiều người từng tiếc ngẩn tiếc ngơ, tiếc mà
bỏ cơm bỏ cháo, thậm chí về nhà cũng không muốn làm việc gì. Sự nuối tiếc ấy
không phải vì giá trị con cá bao nhiêu tiền, cái chính là hình ảnh và cảm giác
còn rõ mồn một ấy mà, không tiếc làm sao được. Tôi chỉ biết kiếm vài lời bùi
bùi, để con lấy lại hưng phấn, đúng lúc ấy con trai đánh hắt cánh tay về sau rõ
mạnh, rồi cúi đầu kéo thật nhanh. Chú mực ống phải đến 40cm, thường gọi là mực
thước vừa lên khỏi mặt nước đã phì phà phì phụt, khuấy đục cả một vùng nước biển.
Không khí từ đây rôm rả hẳn, chốc chốc dây câu của hai bố con lần lượt căng
đét, chuyện sẩy con cá nhồng hầu như đã tản mác theo từng con sóng ì oạp dưới mạn
thuyền.
Trăng hạ huyền lên độ cây sào, hai tay tôi vẫn “gảy” đều đều
hai dây câu nhưng ít thấy mực đóng, cơn buồn ngủ bắt đầu hỏi thăm. Trên biển
các loại đèn cũng thưa dần, con trai bảo thu xếp kéo neo được rồi ba! Con thuyền
trở về, tôi tranh thủ gà gật, chợp mắt chút để lấy lại thăng bằng. Bố con cập bến
một lúc thì trời dần sáng rõ, vẫn cảnh bán mua tấp nập thường ngày, vẫn cảnh
tàu thuyền liên tục vào ra, nhịp sống quen thuộc của một làng biển xưa nay.
* * *
Làng
tôi, thuở trước là “làng câu lưới”. Dù bây giờ là một làng thuần ngư, làng đánh
bắt xa bờ, làng biển năng động gì gì đi nữa; thì câu và lưới vẫn là hai nghề
chính, xưa kia tổ tiên đã mang đến để lập làng và cũng từ hai nghề đó mà dần dà
đi lên. Lưới ban đầu chỉ có lưới rê, lưới dầm, lưới trủ. Qua thời gian mà phát
triển, lưới còng, lưới ba lớp, lưới tôm, lưới ghẹ, lưới mực nang, lưới giang,
lưới nhụ, lưới đuối, lưới rùng... Đối với nghề câu, ban đầu chỉ là câu chằng,
câu vàng (vàng câu có nhiều nẹp, mỗi nẹp có tới mấy chục lưỡi). Tiếp đến thêm
câu dong, câu chạy, câu lông cò, câu hố, câu hồng, câu song, câu lanh, câu ong,
câu rựa. Chất liệu chính ban đầu là sợi gai, sau tiến lên ni lông, hiện nay là
cước. Bởi thế trong dân gian còn có câu hát: “Tiếc công anh xe chỉ
tóm cần/ Câu con cá quận nó lần ra khơi” là vậy.
Về nơi hành nghề, không phải cứ ra biển mới buông câu được. Xưa
nay vẫn thế, khi thời tiết và gió nước phù hợp, bất kể sông, hồ, ghềnh, mom… ở
đâu nhiều cá, vị trí thuận lợi là có mặt các cần thủ. Người câu dạng này cũng
khá nhiều thành phần: Các lão ngư, người về hưu, viên chức dịp cuối tuần, song
phần lớn là các cần thủ có nhu cầu giải trí. Họ không chỉ là dân địa phương,
nhiều người còn mang cả xe máy xịn, thậm chí ô tô từ nơi khác tới. Đồ câu cũng
ngày càng hiện đại, từ cần câu thủ công lên cần câu máy, loại hiện đại mỗi bộ
có giá từ một đến vài triệu đồng. Sản phẩm câu được thường là cá hanh, cá hồng,
cá vược, cá mú… Những điểm câu lý tưởng mà họ thường nhắm đến là cảng Hòn La,
chân cầu Roòn, cảng cá Cảnh Dương, hai phía cửa sông Roòn…
Ngoài đi câu để mưu sinh, nhiều cần thủ hành nghề với tâm thế,
cốt để tìm thấy niềm vui giải tỏa áp lực công việc. Dần dà người ta coi câu cá
như một hình thức giải trí thượng hạng, một thú vui tiêu khiển, niềm đam mê
trong cuộc sống của nhiều người, nhiều thành phần, độ tuổi. Riêng câu đêm đang
trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng. Với những du khách có nhu cầu du lịch biển
đảo khi về với Quảng Trị, câu mực đêm đang có sức thu hút lớn. Một cú điện thoại
từ Đồng Hới, hay bất kỳ đâu đó, đăng ký một chuyến câu đêm cho bao nhiêu cần thủ,
người ta sẽ bố trí đầy đủ và đáp ứng ngon ơ. Ô tô, xe máy về đây, gửi lại các
điểm homestay, các nhà nghỉ quá an toàn, lúc về bến tiếp tục lăn bánh.
Con trai tôi vừa nhớ rất chi tiết các điểm đá ngầm, rạn lố dưới
đáy biển; biết cụ thể mùa nào thì các loại cá, mực nào thường sinh sống; nó còn
có khả năng phán đoán thời tiết chính xác, nhờ sử dụng thành thạo công nghệ
thông tin, được bà con tin tưởng cho là có nhiều kinh nghiệm trong nghề. Câu
đêm hiện nay thi thoảng mới được cá lớn như ngày trước, đó là một thực tế nhưng
niềm vui, sự hứng thú mà mỗi chuyến câu đêm mang lại vẫn làm chúng ta xốn xang.
Bởi đặc tính các loài thủy sinh chủ yếu là di cư, phần lớn chúng di chuyển từ
ngoài khơi vào, hoặc từ nơi khác đến, nên các cần thủ vẫn có quyền chờ đợi những
thú vui lãng mạn, từ những buổi đi câu nói chung, câu đêm nói riêng.
Một lần trả lời phỏng vấn Đài Truyền hình VTV1 trong chương
trình “Biển Việt Nam - Thanh âm ngàn đời”, con trai tôi nói: “Mỗi lần đi xuống
thăm biển, thấy biển lặng thì lòng rất vui, thấy biển động thì trong lòng buồn
bã hẳn”. Trả lời của con đã cho tôi thấy rằng, mối tâm giao giữa ngư phủ và biển
trời sóng nước, như mối thâm tình đã ràng rịt, đã kết nối giữa họ với nhau. Chả
thế, đêm nằm nghe tiếng sóng, thấy tia chớp họ đã biết diễn biến của thời tiết;
xem bọt sóng trôi theo từng mé nước họ đã biết mùa vụ năm nay trúng hay thua.
Những điều tưởng như đơn giản ấy, đã truyền cho tôi nguồn cảm hứng thi vị. Trước
biển, ta thấy mình luôn nhỏ bé, nhưng nhỏ bé trong sự bao la, trong sức mạnh tiềm
tàng mà biển thuộc về; song ta luôn lớn lao ở chỗ ta hiểu được biển, làm chủ được
biển và khai thác từ biển; nói một cách đơn giản, chỉ với cái cần câu, ta có thể
trút bỏ được bao thứ và thu về bao thứ.
Sau chuyến câu đêm, cái mà bố con tôi mang về không hề nhỏ,
ngoài con cá bớp gần chục ký (con nhồng đã bị sẩy), còn hơn ba ký mực ống, tính
ra thu về cũng đến ba triệu đồng. Biển luôn đẹp và giàu có, chỉ sự đối xử giữa
con người với biển đôi lúc còn khá thô bạo, ngay trong đánh bắt cũng không từ một
kiểu khai thác nào. Một lẽ khác, khi ra biển hầu hết ngư phủ đều gửi lại đất liền
mọi thú vui và sở thích, đơn giản như xem vô tuyến trong mùa bóng đá, để nhận lấy
sự trở trăn, lăn lộn đầy cực nhọc, vì mưu sinh cho gia đình và quê hương, làng
xóm. Cảm nhận ấy giúp tôi luôn có thiện cảm với các ngư phủ, khi nhìn mặt hàng
hải sản ở chợ quê, hay bất kỳ ở đâu, tôi đã hiểu nỗi gian truân của họ như thế
nào.
Lòng tôi chộn rộn sau chuyến câu đêm. Làng biển lại bắt đầu một
ngày mới đầy năng động và nhịp sống can trường vốn là bản thể bao đời!
N.T.N
